This is featured post 1 title
Replace these every slider sentences with your featured post descriptions.Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these with your own descriptions.
This is featured post 2 title
Replace these every slider sentences with your featured post descriptions.Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these with your own descriptions.
This is featured post 3 title
Replace these every slider sentences with your featured post descriptions.Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these with your own descriptions.
Thứ Bảy, 12 tháng 11, 2011
Ngôi nhà giáo dục Phật Giáo Việt Nam
Từ ngôi
trường (nhà) vật chất cụ thể, ta dùng phương pháp suy luận để tìm hiểu về ngôi
nhà được cấu thành bằng sự tổng hợp của những yếu tố vừa vật chất vừa tinh thần.
Đó là ngôi nhà ‘giáo dục Phật giáo Việt Nam’. Trong phạm vi hiểu biết, người
viết sẽ thảo luận về một số yếu tố tạo nên ngôi nhà thượng tầng này qua các vấn
đề: kiến trúc sư, đội ngũ kỹ sư
(giảng viên) và mô hình đào tạo. Ngoài ra, viện nghiên cứu
cũng được đề cập như là thành phần không thể thiếu của ngôi nhà này. Mục đích
của bài viết là đưa ra ý kiến thảo luận như tinh thần hội thảo đã nêu.
Giáo dục Phật
giáo là một ngành giáo dục đặc biệt. Đo đó, để đi đúng tông chỉ của nó, thiết
nghĩ không thể không quay về ôn lại mục tiêu và phương cách giáo dục của đức
Phật. Sự giác ngộ bằng sự chứng nghiệm tự thân cho phép đức Phật đủ thẩm quyền
tuyên bố sự thật về khổ đau và con đường chấm dứt khổ đau trên cuộc đời này. Lời
tuyên bố ấy cũng chính là mục tiêu tối hậu mà đức Phật đã dành suốt cả cuộc đời
để tuyên thuyết và giáo hóa cũng như khuyến tấn đệ tử dấn thân theo con đường
của Ngài. Mục đích là chỉ rõ nỗi khổ và con đường đưa đến chấm dứt nỗi khổ. Vậy
thì, phương cách Phật thực hiện như thế nào?
Có thể nói
đây là vấn đề lớn và không thể trình bày trong vài trang giấy. Do đó, người viết
chỉ nhấn mạnh hai phương diện căn bản là giảng dạy giáo pháp như phương tiện qua
sông (bể khổ) và cách thức sử dụng phương tiện hữu hiệu nhất. Giáo pháp bao gồm
tam tạng kinh điển nhưng tóm gọn không ngoài giới, định, tuệ. Còn phương pháp
được cho là 84.000 pháp môn nhưng không ngoài một chữ ‘thiền’ dù đó là pháp môn
gì.
Ngôi nhà giáo
dục của đức Phật là một tăng đoàn do Ngài (bậc kiến trúc sư) lãnh đạo, gồm nhiều
trợ lý tài năng thật sự và được tin tưởng giao việc đúng vị trí sở trường của họ
(ví dụ: Ngài Xá lợi phất và Ngài Mục kiền liên là hai trợ thủ như hai cánh tay
của Phật mà không phải là những đệ tử xuất gia trước). Vì thế, họ phát huy đóng
góp hết khả năng cho sự nghiệp giáo dục. Cơ sở giáo dục của Phật chủ yếu là ở
các tinh xá lớn và một số nơi khác. Chương trình của đức Phật là học chung và tự
học. Học chung là lúc khất thực, nghe pháp cùng đại chúng và tự tu học là lúc
hành thiền, niệm Phật (niệm đức tính của Phật chứ không phải niệm danh hiệu một
đức Phật). Đầu ra (tốt nghiệp) của học viên là quả vị A la hán – những người có
thể du hóa, thuyết pháp độ sanh. Những học trò tốt nghiệp của Ngài chưa bao giờ
thất nghiệp (theo ý nghĩa phụng sự).
Trở lại vất
đề giáo dục Phật giáo Việt Nam hiện nay, dù hoàn cảnh xã hội, văn hóa, phong tục
tập quán khác nhau, thời đại đổi thay nhưng mục tiêu ‘giải thoát’ vẫn không thay
đổi. Chỉ một điều quan trọng là điều chỉnh chương trình, phương pháp và định
hướng đầu ra (tức tốt nghiệp) sao cho phù hợp với môi trường thực tế của xã hội
đương đại. Để làm tốt việc này trước hết phải xác định ai là kiến trúc sư?
Kiến trúc sư
phải là người thực tài, đức được cung thỉnh vào vị trí giáo dục để xây dựng mô
hình giáo dục phù hợp với nhu cầu thực tế. Khi được cung thỉnh vào vị trí lãnh
đạo, vị ấy phải thấy đây là niềm vinh dự và cũng là trách nhiệm phụng sự của
mình cho Phật giáo. Vị ấy phải biết tìm cho mình những trợ thủ đắc lực có tâm
phục vụ, để xây dựng nên ngôi nhà giáo dục vững chắc với mục đích đào tạo ra
những thế hệ tương lai thật sự có chất lượng. Nếu vì lý do nào đó mà phải kiêm
nhiều công việc, vị ấy phải tìm người trợ lý thực tài để thay mình làm việc trực
tiếp. Như vậy, trong một nhiệm kỳ, vị kiến trúc sư phải đề ra những chương trình
cụ thể để hoạt động và hết nhiệm kỳ phải công bố kết quả, nếu chưa hoàn tất công
việc thì chuyển tiếp vị kế nhiệm. Ví dụ, chương trình soạn thảo sách giáo khoa
Phật học cho các cấp học sẽ thực hiện bao lâu, ai là người đảm trách, nội dung
bao gồm những gì, v.v..
Yếu tố thứ
hai là vai trò của các trợ lý điều hành và đội ngũ giảng viên. Trợ lý điều hành
sẽ lo việc hành chánh còn đội ngũ giảng viên đảm trách trực tiếp giảng dạy. Về
giảng viên, cần phải xây dựng phương thức đánh giá chất lượng chuyên môn, giảng
dạy. Trước hết, bộ sách giáo khoa Phật học phải được cung cấp và trong khi chưa
có nó thì chí ít cũng phải có giáo án hay đề cương giảng dạy (do giảng viên
soạn). Thứ hai, ngành giáo dục phải có ban kiểm định chất lượng để theo dõi dự
giờ các tiết học, sau đó đánh giá và bồi dưỡng năng lực nhân sự của ngành. Thứ
ba, giảng viên dạy và đánh giá tiêu chuẩn học viên theo tiêu chí quy định. Việc
đánh giá học tập sẽ theo từng cấp bậc khác nhau với những hình thức khác nhau.
Ví dụ, ở cấp nào thi trắc nghiệm, thi viết, ở cấp nào làm tiểu luận và ở cấp nào
có sự phối họp cả hai. Về tiểu luận, hình thức này nên áp dụng cho sinh viên năm
thứ mấy và độ dài bao nhiêu cho từng năm học. Không nên áp dụng theo phương thức
cào bằng.
Yếu tố quan
trọng thứ ba là mô hình và chương trình đào tạo. Người viết ủng hộ hai mô hình
được chư tôn đức đề xuất nhưng chưa thực hiện.
Mô hình nội điển chuyên tu tương đương trường
chuyên dạy nghề ở thế học.
Thời gian đào
tạo cho mô hình này là 9 năm chia làm ba cấp:
Sơ cấp: (3
năm) chương trình giảng dạy bao gồm giới luật Phật giáo, Phật pháp căn bản,
những bài kinh căn bản hướng dẫn phương pháp hành trì, lịch sử Phật giáo gồm
lịch sử đức Phật, các thánh tăng, các tổ sư Việt nam, các vị Hòa thượng danh
tăng Việt Nam và ngoại ngữ. Mục tiêu của cấp này là tạo cho học viên làm quen
với thuật ngữ Phật giáo và giáo lý cơ bản, biết phương pháp hành trì chuyển hóa
khổ đau và lấy tấm gương chư Phật và chư tổ làm điểm tựa phấn đấu.
Trung cấp (3
năm) chương trình gồm ý nghĩa và thực hành các nghi thức thiền môn như quy y, lễ
vía, truyền giới, giới đàn, cách giải quyết bất hòa trong tăng theo luật; hiến
chương và luật pháp liên quan tôn giáo; vai trò trụ trì và các kỹ năng hướng dẫn
Phật tử; lịch sử Phật giáo Việt Nam; khái quát đại cương đại tạng kinh nam
truyền và bắc truyền gồm lịch sử truyền thừa và tư tưởng chủ đạo; ngoại ngữ. Mục
đích là trang bị cho học viên kiến thức tổng quát về kinh điển Phật giáo, lịch
sử phát triển Phật giáo tại Việt Nam, những kiến thức nền tảng pháp luật để họ
có thể gánh vác công tác Phật sự sau khi hoàn tất chương trình.
Cao đẳng (3
năm) gồm lịch sử Phật giáo thế giới, triết học đông tây, phương pháp nghiên cứu
tra khảo, tư tưởng kinh bộ, phương pháp sư phạm trong giảng dạy, ngoại ngữ. Mục
đích là giúp học viên sau khi tốt nghiệp thông suốt tư tưởng kinh điển và đủ khả
năng trở thành giáo thọ sư.
Như vậy, giáo
dục theo mô hình nội điển sẽ cung cấp nguồn nhân sự đủ khả năng làm Phật sự tại
các ngôi chùa, làm giáo thọ giảng dạy tại các trường và đạo tràng tu học. Nó phù
hợp với truyền thống Phật giáo thiền môn.
Mô hình hội nhập tương đương các đại học thế
tục
Vì là mô hình
hội nhập nên nó phải phù hợp với tiêu chuẩn của bộ giáo dục. Chương trình sẽ
được thiết kế theo ngành học cụ thể. Việc tuyển sinh nên thực hiện hàng năm để
tạo sinh viên có cơ hội thi vào và trả nợ môn nếu chưa đạt yêu cầu. Sau khi tốt
nghiệp, sinh viên được quyền tiếp tục học cao hơn tại trường hay nơi khác. Điều
cần quan tâm là xây dựng ngành học theo nhu cầu Phật sự và xã hội hơn là các
ngành danh tiếng mà không có đất dụng võ cho sinh viên khi ra trường.
Mục tiêu của
mô hình này là cung cấp nhân sự làm công tác giảng dạy tại tất cả các trường,
làm công việc nghiên cứu, dịch thuật …
Theo số liệu
thống kê, hiện tại Phật giáo có 4 học viện, 9 lớp cao đẳng, 33 trường trung cấp
và vài chục lớp sơ cấp. Số lượng tăng ni đang học tại tất cả các trường nói trên
không quá 10.000 tăng ni. Con số này chỉ bằng số sinh viên của một trường đại
học cỡ trung bình. Thực tế cho thấy, chỉ trừ Học viện Phật giáo tại thành phố Hồ
Chí Minh có số lượng sinh viên đông và phân ra nhiều ngành, tất cả các trường
còn lại quy mô đào tạo như là một lớp học bởi vì đa số các trường chỉ có một lớp
cho tăng ni học chung hay 2 lớp cho tăng ni học riêng. Hầu như các trường đào
tạo theo chương trình tự thiết kế và sĩ số học viên thì không theo tiêu chuẩn
nào. Con số trường lớp nhiều, số tăng ni tốt nghiệp đông nhưng chưa có kết quả
điều tra nào để chứng minh chất lượng đào tạo thông qua công tác Phật sự của họ.
(Có thể thực hiện qua phiếu thăm dò)
Giáo dục Phật
giáo muốn phát triển, muốn đào tạo ra đội ngũ nhân sự có chất cho Giáo hội không
có cách nào khác hơn là quy hoạch lại hệ thống giáo dục, thiết kế lại ngôi nhà
giáo dục của mình.
Trước hết,
hãy để cho các Học viện tự chủ đào tạo theo quy định của mô hình nhập thế, phù
hợp với tiêu chuẩn của bộ giáo dục và xa hơn là tiêu chuẩn quốc tế.
Thứ hai, quy
hoạch lại các trường trung cấp, cao đẳng để phân thành 3 cụm ở 3 miền dưới sự hỗ
trợ của 3 Học viện. Xây dựng lại cơ sở trường lớp theo tiêu chuẩn sĩ số học
viên, chương trình học đào tạo thống nhất và đội ngũ giảng viên có tâm huyết.
Nếu không làm được việc này thì dù những viên gạch, đá có tốt cũng khó lòng đóng
góp tạo nên ngôi nhà khang trang vững chắc.
Theo truyền
thống tâm linh Phật giáo, mỗi Học việc sẽ là một tăng đoàn vừa học vừa tu như
thời đức Phật, nghĩa là bắt buộc nội trú. Mô hình nội điển cũng bắt buộc tương
tự. Thay vì cho phép tỉnh nào cũng được mở trường nhưng không đủ tiêu chuẩn, thì
ngành giáo dục nên tập trung về những trường đủ tiêu chuẩn để tạo những tăng
đoàn vững mạnh (mỗi trường là một tăng đoàn). Hãy vì tương lai của Phật giáo mà
hy sinh cái lợi lộc trước mắt. Chỉ có môi trường nội trú vừa học vừa hành trực
tiếp giữa thầy và trò thì mới hy vọng tương lai Phật giáo xán lạn. Đây là mô
hình đức Phật đã làm và trong thời bình việc này không quá khó để thực hiện. Rất
mong Giáo hội thực hiện chương trình này!
Một ngành
liên quan đến giáo dục, theo người viết là nên trực thuộc ban giáo dục, là Viện
nghiên cứu. Hiện nay, Viện nghiên cứu là một ban độc lập trong mười ban
ngành.
Viện nghiên
cứu là một bộ phận quan trọng trong sự nghiệp giáo dục Phật giáo vì đây là trung
tâm xuất bản các công trình nghiên cứu, dịch thuật, cung cấp các chương trình
nghiên cứu hỗ trợ cho công việc đào tạo các cấp, nhất là đại học. Mỗi năm, Viện
phải xuất bản ra số ấn phẩm nhất định theo số nhân sự và học giả hợp tác. Đặc
biệt, trong khi chương trình sách giáo khoa Phật học chưa có thì chính Viện
nghiên cứu là nơi thích hợp nhất làm công tác này. Viện nghiên cứu phối hợp với
các trường Phật học để thu thập những giáo án có giá trị, sau đó biên soạn, xuất
bản thành sách giáo khoa Phật học cho các cấp. Với đội ngũ hiện nay của viện,
việc biên soạn sách giáo khoa Phật học là không quá khó và có thể thực hiện
trong thời gian ngắn. Đây là cơ hội cho viện đóng góp công sức mình cho sự
nghiệp giáo dục. Ngoài ra, danh tiếng của viện sẽ được nâng cao nếu tạp chí
nghiên cứu Phật học của viện có chất lượng và có giá trị ứng dụng trong xã
hội.
Những ý thảo
luận vừa nêu là quan điểm cá nhân của người viết. Kính xin được đóng góp và rất
mong nhân sự trao đổi từ hội thảo.



16:38
oneillhekhih6165