This is featured post 1 title
Replace these every slider sentences with your featured post descriptions.Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these with your own descriptions.
This is featured post 2 title
Replace these every slider sentences with your featured post descriptions.Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these with your own descriptions.
This is featured post 3 title
Replace these every slider sentences with your featured post descriptions.Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these with your own descriptions.
Thứ Năm, 26 tháng 4, 2012
Phần thưởng nào khuyến khích Phật tử
Sẽ là một thực tế khi
có ai đó đặt câu hỏi trở thành Phật tử (gồm cả tại gia và xuất gia nhưng ở đây
dùng cho người Phật tử tại gia) sẽ được gì hay nói cách khác là sẽ được phần
thưởng nào? Thế nhưng, có lẽ ít ai đặt câu hỏi ấy trực tiếp hay gián tiếp trong
quá trình trở thành Phật tử, thậm chí trước hay sau khi trở thành Phật tử bởi
dường như Phật tử nào ít nhiều đều hiểu giá trị đạt được khi là Phật tử. Lại
nữa, cũng sẽ là thiết thực hơn nếu có ai hỏi rằng Phật tử phải làm gì để được
nhận phần thưởng? Hai vấn đề quyền lợi (phần thưởng) và trách nhiệm (bổn phận)
luôn song hành và có tác động lẫn nhau. Hỏi phần thưởng tức bao gồm bổn
phận.
Được gì hay phần thưởng
nào ở đây có thể được hiểu ở hai khía cạnh là quả - phước báu hay sự an lạc và
cao tột là giác ngộ, giải thoát do thực hành giáo pháp và quả - phần thưởng
khích lệ bằng vật chất hay tinh thần do tổ chức Phật giáo hay chùa chiền nơi vị
ấy sinh hoạt ban tặng. Trong khi khía cạnh một là mục tiêu hàng đầu bất cứ Phật
tử nào cũng cầu mong và phấn đấu để đạt được nhưng ít người đạt được hay đạt
được mà chưa cảm nhận hay chưa thỏa mãn về nó, thì khía cạnh thứ hai lại rất dễ
dàng cho tất cả mọi người thấy được. Rõ ràng phần thưởng luôn có thật nhưng làm
cách nào để nhận được phần thưởng xứng đáng lại là vấn đề mỗi người Phật tử cần
phải suy nghĩ.
Trước hết, chúng ta hãy
tạm chấp nhận khái niệm Phật tử qua hai quan điểm. Thứ nhất, Phật tử chính thức
tức là những người đã quy y (nương tựa) Tam Bảo và phát nguyện thực hành năm
giới (năm điều đạo đức Phật giáo). Thứ hai, Phật tử tự nhận tức là những người
không quy y Tam Bảo nhưng thực hành lời dạy của đức Phật như hành thiền, tụng
kinh, v.v…(nói cho đúng thì họ đã quy y Nhị Bảo vì họ nương vào giáo pháp do đức
Phật dạy mà thực hành).
Theo truyền thống Phật
giáo, một người trở thành Phật tử chính thức khi vị ấy lập lại ba lần trước vị
thầy rằng: ‘con xin quy y Phật/Bụt, con xin quy y Pháp, con xin quy y Tăng’ trừ
trường hợp hai vị Phật tử đầu tiên tên Tapassu va Bhallika chỉ quy y Phật và
Pháp (vì lúc ấy chưa thành lập Tăng già). Nghi thức này cũng ví như nghi thức
nhập môn của các tín đồ các tôn giáo khác. Sau khi đã quy y Tam Bảo xong, vị ấy
sẽ được giảng giải về năm giới và được khuyến khích phát nguyện thực hành càng
nhiều càng tốt năm giới ấy.
Thật là ngạc nhiên khi
không có điều luật nào trong Phật giáo bắt buộc người đã quy y phải tuân thủ
thực hành đầy đủ năm giới. Nói cách khác, không có điều luật nào trong Phật giáo
quy định nếu không giữ đủ năm giới thì sẽ không được công nhận là Phật tử hay có
hình thức kỷ luật tương xứng. Như vậy, trở thành Phật tử là một sự tự nguyện
tích cực sau khi nhận thấy được giá trị thiết thực của chánh pháp. Do đó, quy y
là nền tảng đầu tiên và cũng là con đường phải nương tựa suốt cuộc đời của người
Phật tử thực hành chánh pháp. Phần thưởng cao quý nhất tất yếu có được sẽ bắt
đầu từ nền tảng ấy.
Phần thưởng theo khía
cạnh một:
Ngược thời gian trở về
thời đức Phật, chúng ta biết được câu chuyện hai vị cư sĩ cúng dường đức Phật
ngay sau khi Ngài chứng ngộ đạo giải thoát và cầu xin Phật để được quy y Ngài và
giáo pháp; hay chuyện chàng cư sĩ Thiện Sinh xin quy y Tam Bảo sau khi được đức
Phật giảng dạy về ý nghĩa lễ lạy sáu phương và các điều đạo đức có thể đưa đến
an lạc, hạnh phúc đời này và đời sau nếu được thực hành….Tại sao họ lại quy y và
họ đạt được điều gì? Rất dễ dàng nhận ra là họ bị thuyết phục bởi năng lực phi
thường cũng như trí tuệ siêu phàm của đức Phật và phần thưởng dành cho họ là
phước báu do cúng dường và sự hiểu biết phương cách đưa đến hạnh phúc đời này và
đời sau.
Trải qua hơn 2500 năm
lịch sử, số người tìm đến quy y do kính trọng Tam Bảo cũng có, mà do niềm tin sẽ
được Phật gia hộ bình an, khỏi đọa tam đồ, siêu sanh cõi lành cũng không thiếu.
Quy y do kính trọng Tam Bảo diễn ra khi vị ấy thấy được tấm gương vĩ đại của đức
Phật và kính phục xin noi theo Ngài; khi vị ấy hiểu được giá trị thiết thực của
giáo pháp là có thể đem đến an lạc, hạnh phúc hiện tại và tương lai; và khi vị
ấy chứng kiến sự an lạc thật sự của tăng đoàn và tin tưởng khả năng hướng dẫn
của họ. Sau khi quy y chính thức hay không chính thức, người Phật tử tiếp tục
học hỏi và không ngừng hành trì chánh pháp thông qua sự hướng dẫn của tăng đoàn
và sự soi sáng từ những đức tính của đức Phật. Những người theo con đường này
hiện có mặt khắp Đông Tây và phần thưởng thiết thực mà họ nhận được biểu hiện
qua đời sống an lạc hằng ngày của họ. Mối quan hệ tương duyên nhân - quy y, hành
trì chánh pháp và quả - sự an lạc được chứng minh rõ ràng qua nỗ lực tự thân của
họ.
Ngược lại, quy y do
niềm tin sẽ được Phật gia hộ và sẽ được phước báu vãng sanh cõi lành phần lớn
dựa vào niềm tin và tha lực. Đa số Phật tử hiện nay đi theo con đường này. Họ
quy y bởi họ tin rằng đức Phật là bậc cao tột có năng lực vượt hẳn tất cả các
thần linh và luôn từ bi ban phước và gia hộ; tin rằng chánh pháp là điều nhiệm
mầu có thể làm tăng phước báu và sự linh thiêng khi trì tụng; và tin rằng tăng
đoàn có thể giúp họ đạt được ý nguyện nhờ phước đức của Tăng và các nghi lễ cầu
nguyện mà họ thực hiện. Phần thưởng cho những người trong trường hợp này là
không thể xác định cụ thể vì nó còn phụ thuộc vào chánh nhân mà họ thực hiện.
Tùy theo chánh nhân có tu tập hành trì, hoặc chỉ dừng lại ở niềm tin và cầu
nguyện hay thậm chí không theo chánh pháp mà kết quả sẽ đến tương xứng. Những
người thuộc nhóm này thường dễ dao động bởi các yếu tố linh thiêng mầu nhiệm và
huyền bí siêu hình. Tuy nhiên, điều đáng ghi nhận là nhờ đức tin vào sự phù hộ
của đức Phật và chư vị Bồ tát mà nhiều người tìm đến đạo Phật và phát tâm làm
việc thiện.
Phần thưởng theo khía
cạnh hai:
Khi chưa phải thánh
nhân sống đời tự tại, thoát vòng đối đãi, thì yếu tố ngoại duyên mang tính khích
lệ tinh thần tu học của người Phật tử rất cần được chú trọng. Sự khen tặng bằng
món quà tinh thần hay sự giúp đỡ bằng phương tiện vật chất cho những Phật tử
trong các trường hợp như tinh tấn tu tập, có nhiều đóng góp, gặp hoàn cảnh thiếu
thốn là điều không quá khó khăn để thực hiện. Ta hãy tìm hiểu, xưa và nay, những
phần thưởng dạng này được áp dụng như thế nào trong Phật giáo?
Có thể nói Phật giáo là
một tôn giáo không có chủ trương phát triển tín đồ, đặt biệt là không thấy đề
cập vai trò và bổn phận truyền bá chánh pháp của người Phật tử. Trong khi mỗi
tín đồ của các tôn giáo lớn khác dù là tu sĩ hay thế tục đều có bổn phận bắt
buộc phải là nhà truyền giáo, thì Phật giáo chỉ thấy đề cập vai trò và bổn phận
này đối với người xuất gia ngay sau khi Tăng đoàn được thành lập. Phải chăng đức
Phật không xác nhận vai trò này đối với người Phật tử hay vì Phật chưa nói vì
nhân duyên chưa đủ? Phải chăng Phật tử chỉ làm công việc “thiền môn hưng thịnh
do đàn việt pháp tâm” như chư tăng ni thường lập lại trong các lễ trai tăng cúng
dường? Sự thờ ơ của Phật tử trước sự tăng giảm tín đồ Phật giáo, có thể nói, là
hậu quả của việc độc quyền vai trò truyền bá chánh pháp. Sự thật có đúng như vậy
không và phần thưởng nào dành cho họ trong trường hợp này?
Đọc trong kinh sử Phật
giáo, ta thấy rằng, mặc dù đức Phật không giao phó bổn phận truyền bá chánh pháp
cho hàng tại gia nhưng Phật cũng không phủ nhận vai trò của họ đối với công việc
này. Nữ cư sĩ Visakha khéo léo đưa cả gia đình nhà chồng theo Phật giáo, bác sĩ
Jivaka khéo đưa vua A-xà-thế đến với đức Phật sau khi vua đã phạm tội lớn, v.v..
là những ví dụ cho thấy Phật tử tại gia đóng vai trò quan trọng, trực tiếp trong
việc phổ biến đạo Phật và làm tăng thêm bạn tu. Phần thưởng họ có được trong
trường hợp này là được Phật tán thán và tất nhiên là tăng trưởng phước báu theo
đúng tinh thần nhân quả. Như vậy, ngay thời Phật tại thế, phần thưởng – sự tán
thán khích lệ tinh thần cho người tu gồm cả xuất gia và tại gia khi họ phổ biến
chánh pháp đã được thực hiện và mang lại kết quả thiết thực. Số người tu chứng
và số lượng Phật tử không ngừng gia tăng.
Ngày nay, những người
cư sĩ làm công việc truyền bá chánh pháp không phải là hiếm thấy. Điều đó có
nghĩa là nhiều người Phật tử vẫn tự ý thức được vai trò của họ trong việc tu tập
và hộ trì Phật giáo. Điều đáng nói là các tổ chức Phật giáo dường như quên lãng
việc tán thán khích lệ những người Phật tử làm công tác truyền bá đạo Phật. Hiếm
có chùa nào thống kê số lượng Phật tử quy y hàng năm và tổng số tín đồ gia tăng
trong 5 năm, 10 năm…. Hiếm có chùa nào hướng dẫn Phật tử kỹ năng truyền bá chánh
pháp cho những người chưa là Phật tử. Càng hiếm thấy chùa nào quan tâm tán
thưởng những người có đóng góp trong việc giới thiệu nhiều người vào đạo tu
tập.
Như vậy, phần thưởng
khích lệ tinh thần cho những người cư sĩ hoằng pháp chưa được thực hiện bởi Phật
giáo chưa có chương trình đề cập vai trò và trách nhiệm hoằng pháp của mỗi người
Phật tử. Kết quả là đa số Phật tử không biết hay biết mà không có kỹ năng thực
hiện vai trò truyền bá chánh pháp của mình. Cho nên, nhiều gia đình cha mẹ là
Phật tử nhưng không hướng được con cháu đến với đạo Phật để trở thành Phật tử mà
để chúng theo các tôn giáo khác hay không theo tôn giáo cụ thể nào. Phật giáo vì
vậy trở nên thiếu sức sống và người Phật tử trở nên thờ ơ với sự sống còn của
đạo Phật.
Có rất nhiều nguyên
nhân đưa đến tình trạng thiếu sức sống của Phật giáo và sự thờ ơ của Phật tử.
Một trong những nguyên nhân phổ biến hiện nay là sự lý tưởng hóa đạo Phật và
thiếu sự tương trợ trong tổ chức Phật giáo. Các nhà hoằng pháp thường hay lý
tưởng hóa Phật giáo bằng cách trích dẫn, giảng giải những giáo lý từ bi, vô ngã,
tinh thần bồ tát…nhưng thực tế chẳng mấy ai đủ năng lực thực hành được một phần
những giáo lý ấy. Do đó, Phật giáo trở thành huyền bí, linh thiêng hơn là mang
tính thực tế.
Về sự tương trợ, tổ
chức Phật giáo thiếu hẳn chương trình và mục tiêu này từ cấp cao nhất cho đến
cấp cơ sở. Về mặt hình thức, các ban ngành đều có đầy đủ nhưng trên thực tế thì
mạnh ai nấy làm. Kết quả là Phật giáo đóng góp rất nhiều (chứ không phải là
thiếu tài chánh) nhưng chính những người Phật tử nghèo thiếu không được hưởng,
những cơ sở Phật giáo thiếu thốn (các chùa ở thôn quê) không được hỗ trợ, chương
trình hoằng pháp xa xôi bế tắt vì không có kinh phí…Phật giáo không có khả năng
tổ chức để giúp đỡ con em Phật tử nghèo thì làm sao họ mang ơn Phật để mà theo
Phật. Trong khi đó, các tôn giáo khác nhân danh đấng tối cao đem đến cho họ cuộc
sống khá hơn thì lẽ nào họ từ chối?!
Tóm lại, Phật tử tinh
tấn tu tập thì tất nhiên nhận phần thưởng an lạc giải thoát; Phật tử đóng góp
vật chất thông qua bố thí cúng dường hay truyền bá chánh pháp thì tất nhiên
hưởng phước báu và đáng được nhận sự khích lệ tinh thần từ các tổ chức Phật
giáo; và Phật tử nghèo thiếu, bịnh tật, gặp khó khăn thì cũng đáng được nhận sự
giúp đỡ của các tổ chức từ thiện Phật giáo. Khi Phật tử được sự quan tâm, trợ
duyên thì họ sẽ gắn bó với Phật giáo, sẽ có bổn phận và trách nhiệm bảo vệ Phật
giáo. Sự trợ duyên lẫn nhau giữa người xuất gia và tại gia; giữa Phật tử giàu và
nghèo sẽ tạo mối liên kết, gắn bó trong cộng đồng Phật giáo. Đó là điều kiện
quan trọng làm cho Phật giáo tồn tại lâu dài và lớn mạnh.
Thứ Ba, 10 tháng 4, 2012
Chân lý nào có dễ theo?!
Con người được tôn vinh là động vật bậc cao nhất bởi con
người có trí tuệ. Nhờ trí tuệ mà những phát minh khoa học ra đời và đỉnh cao của
nó là chân lý. Thế nhưng một điều nghịch lý là chân lý dù rất hy hữu có người
tìm thấy nhưng khi nó được tìm thấy và công bố rộng rãi, nó vẫn không dễ gì được
nhìn nhận và đi theo. Nguyên nhân vì sao lại có sự nghịch lý? Do con người không
đủ trí tuệ để nhận ra nó hay do yếu tố tập quán, siêu hình nào đó thống trị trí
tuệ đến nỗi phớt lờ chân lý. Hãy đọc và chiêm nghiệm những chuyện đang diễn ra
khắp đông tây, lời giải phần nào sẽ hiển lộ.
Chuyện nơi đất Phật
Ngày nay, trong các tôn giáo lớn trên thế giới thì chỉ có
Phật giáo được Liên hiệp quốc công nhận là tôn giáo có đóng góp to lớn nhất cho
nhân loại về trí tuệ, từ bi, hòa bình…. Tôn giáo ấy do đức Phật Thích Ca Mâu Ni
– người con thân yêu của Ấn Độ sáng lập ra. Công trình Phật khám phá và công bố
cho nhân loại về bốn sự thật, về mối quan hệ tương liên (duyên khởi), về nhân
quả… mãi mãi là chân lý dù con người có nhìn nhận hay không. Lẽ ra, người dân Ấn
phải rất tự hào về đức Phật – người đồng hương thân yêu vì sự đóng góp vĩ đại
của Ngài. Lẽ ra, người Ấn Độ phải biết tôn trọng và giữ gìn di sản chân lý do
chính tiền bối vĩ đại của mình khám phá và cống hiến.
Vậy mà, điều nghịch lý đã xảy ra. Người Ấn vẫn thích cầu
nguyện thần linh và rửa tội nơi các dòng sông được cho là linh thiêng mấy ngàn
năm qua cho đến bây giờ, bất cần chân lý nhân quả đức Phật đưa ra và chứng minh
bằng thực nghiệm. Đáng buồn hơn, tôn giáo thực hành theo chân lý ấy bị đánh bậc
khỏi mảnh đất linh thiêng – nơi sản sinh ra con người vĩ đại của nhân loại từ
thế kỷ thứ 13 bởi những thế lực đối lập thần quyền và thế quyền. Cho đến hiện
tại, trải qua hơn 600 năm vắng bóng và chỉ mới được thắp sáng lại từ thế kỷ 19,
chân lý một thời lừng danh nơi đất Ấn và hiện tại khắp thế giới, mới có cơ hội
le lói sáng lại. Tại sao điều nghịch lý như thế lại xảy ra? Có thể do hai nguyên
nhân chủ yếu là chân lý không được giữ gìn đúng cách bởi những người yêu chân lý
và nó bị đánh phá bởi những thế lực phủ nhận chân lý ấy.
Chuyện ở xứ Tây
Khi ánh sáng trí tuệ chưa tỏa sáng thì bóng tối thần
quyền ngự trị và tìm cách ngự trị. Những gì con người chưa lý giải được bằng
thực nghiệm khoa học thì nó thường bị suy diễn và thậm chí bị gắn yếu tố thần
quyền vào để tạo độ tin cậy, phục tùng. Những chuyện đại loại như thần linh sáng
tạo, thiên đường, tịnh độ…luôn hấp dẫn con người bởi nó đánh đúng vào tâm lý bất
an và ước mơ của con người. Thế nhưng, nếu có một chút trí tuệ để tư duy thì ai
cũng có thể thấy được vạn vật hiện tượng đều do tâm sinh ra hay nói cách khác là
nhận thức về chúng. Mối quan hệ tương liên là chân lý hóa giải mọi nghi vấn về
sự hình thành, tồn tại và tan hoại của vạn loại hữu tình và vô tình; dù nó được
khoa học chứng minh là đúng (ít nhất về phần vật chất) nhưng đâu phải ai cũng
chấp nhận. Vì vậy mà sự dựa vào thần quyền để tồn tại vẫn được nhiều tổ chức
phương Tây ủng hộ. Dù rằng ngày càng nhiều giới trí thức và những người yêu chân
lý tìm hiểu, nghiên cứu và thực hành chúng nhưng xem ra chân lý vẫn còn bị lấn
át trước sức mạnh thần quyền!
Chuyện xứ Ta
Nói về con người thì vấn đề sống chết là quan trọng nhất,
chí ít là đại đa số đồng ý. Theo đạo Phật, kiếp người là vô thỉ, vô chung nghĩa
là không thể tìm thấy nguyên nhân đầu tiên hay cuối cùng mà nó tồn tại theo
thuật ngữ Phật học gọi là “trùng trùng duyên khởi”. Đối với bậc Thánh chứng
Niết-bàn và được đức Phật ví như ‘củi hết lửa tắt’ thì cũng không thể cho là
cuối cùng bởi năng lượng của ‘củi hết lửa tắt’ vẫn tiếp tục vận hành theo duyên
kế tiếp (nguyện lực). Đối với phàm phu, sự tái sanh trong các cõi lành, dữ theo
nghiệp lực là điều không thể tránh khỏi dù muốn hay không.
Dẫu là người con Phật, học và hành theo lời Phật dạy
nhưng xem ra những người con Phật cũng chưa thật sự chấp nhận chân lý tái sanh
này. Hàng ngày ta vẫn thấy các nơi chùa chiền, tăng ni vẫn theo tập tục tổ chức
lễ cầu siêu cho những người đã chết từ lâu và mời gọi các hương linh ấy về hưởng
hương hoa, vật thực. Vậy là, chân lý nghiệp và tái sanh đành phải nhường đất cho
tập tục văn hóa sinh trưởng.
Không biết là đáng thương cho các hương linh mỗi năm mới
được hưởng một lần (thật ra đã tái sanh còn đâu mà về hưởng) hay đáng tội cho
những người cứ phải đọc tên cầu siêu hoài mỗi năm. Ngay cả các vị Hòa thượng cao
tăng mà mỗi năm cũng được hàng đệ tử tiến giác linh và cầu nguyện ‘cao đăng Phật
quốc’ thì nói gì hàng Phật tử bình dân.
Phải chi truyền thống văn hóa (dù không phải của Phật
giáo) được thực hành đơn giản và đúng cách tức là cử hành lễ tưởng niệm công
hạnh các bậc tiền bối để ôn cố tri tân, để giáo dục con cháu và đặc biệt chú
trọng thực hành pháp chuyển hóa tâm thức thay vì cúng bái giác linh, hương linh
mang nặng tín ngưỡng cầu nguyện, thì sự lợi ích có được đáng khích lệ biết chừng
nào!
Không ai phủ nhận sự an tâm khi thực hành tín ngưỡng cúng
bái, nhưng ủng hộ sự an tâm nhất thời ấy tức là đã phủ nhận chân lý của Phật dạy
rồi. Chân lý ơi! xin an ủi cùng ngươi!
Thứ Hai, 2 tháng 4, 2012
Những ấn tượng từ chuyến du hành
Trong cuộc đời, nếu ai có ý định du lịch, hành hương hay một chuyến tham quan xa có lẽ điều mong muốn ưu tiên là có những ấn tượng đẹp về chuyến đi ấy. Tuy nhiên, không phải ai cũng được diễm phúc thưởng thức những ấn tượng đẹp từ những miền đất xa lạ bởi những điều bất như ý vẫn luôn xảy ra nhất là những nơi có nền văn hóa, tập tục khác biệt với thế giới du khách đang sống và cộng thêm tâm lý chuẩn bị để thích ứng chưa chu đáo hay chưa sẵn lòng chấp nhận sự khác biệt. Những tâm trạng hài lòng hay không hài lòng, thuận duyên hay trắc trở, vui sướng hay lo lắng, thỏa chí hay sợ hãi… là những yếu tố đem đến cho mỗi du khách những ấn tượng khó phai về chuyến đi của mình. Ở đây, tôi muốn nhấn mạnh từ ấn tượng bởi nó vừa mang tính tích cực cũng có thể mang tính chưa tích cực. Riêng quan điểm người viết, ấn tượng là những gì đem đến cho mình những kỷ niệm khó quên.
Có lẽ ai thích hành hương Ấn độ đều ít nhiều tìm hiểu về
văn hóa Ấn trước khi khởi hành. Tôi cũng thế. Tuy nhiên, cái biết qua tìm hiểu
thông tin kiến thức chắc chắn không thể nào diễn tả được hết hiện thực cuộc sống
ở Ấn. Do vậy, ‘đi rồi sẽ biết’ là tiêu chí mà tôi nghĩ là cách hay nhất để khám
phá nền văn minh, văn hóa nổi tiếng về nhiều khía cạnh, nhiều tầng nghĩa vào
hàng bậc nhất thế giới của xứ sở đặc biệt này.
Khởi hành từ Bangkok trên chuyến bay của hãng Air Asia
đến Delhi lúc 11h 10 tối giờ địa phương, tôi được người bạn – đang là nghiên cứu
sinh của trường đại học Delhi đón để đưa về ký túc xá sinh viên nghĩ qua đêm.
Công việc check in trước đó cũng tương đối nhanh mặc dù phương tiện máy móc
không sánh bằng ở sân bay Suvarnabhumi, Thái Lan.
Sân bay Delhi cũng khá rộng lớn và theo lời của bạn tôi
thì nó xếp vào hành tầm cỡ quốc tế về quy mô rộng và lượng du khách ra vào. Ra
khỏi sân bay, chiếc xe mà bạn tôi thuê để chở chúng tôi về là loại taxi nhưng có
lẽ chỉ có ở Ấn độ vì nó không giống như những taxi mà tôi đã từng thấy. Đoạn
đường từ sân bay về Old Delhi – Delhi cũ khoảng hơn 30 km. Đường thì không sạch
đẹp nhưng có sự phân làn rõ ràng và chất lượng ắt hẳn là không thua các con
đường hạng nhất ở Việt Nam. Giá cho đoạn đường trên vào khoảng 500 – 600 rupees
tức khoảng 250 ngàn đồng Việt Nam. Vì xe ở Ấn rẻ và chạy bằng gas nên giá cước
rẻ hơn giá taxi của Việt Nam rất nhiều (nếu ở Việt Nam đi taxi phải mất 450 ngàn
đồng). Tài xế chạy xe nhanh và lạng lách nhưng có lẽ tay nghề chuyên nghiệp nên
ít thấy tai nạn xảy ra.
Ký túc xá tôi ở tạm thuộc loại trung bình dành cho khoảng
100 sinh viên. Mỗi sinh viên 1 phòng sinh hoạt theo quy định. Hàng ngày có người
phục vụ ăn uống tại nhà ăn và phải ký tên mỗi ngày khi ăn xong. Ngoài ra, ai
muốn ăn gì thì tự túc ở trong phòng, điện dùng thoải mái. Một đặc trưng không
thể không đề cập đến là yếu tố vệ sinh. Bạn tôi kể ở Ấn độ có 8 không trong đó
có ‘không vệ sinh’ – tức không có ý niệm về dơ sạch một cách rõ ràng. Do vậy,
tìm một chỗ tương đối sạch nơi đất Ấn là hơi hiếm trừ các nhà hàng, khách sạn
sang.
Ngày tôi đến Delhi nhằm vào lễ Holi – một trong những
ngày lễ lớn của dân Ấn. Lễ Holi nhằm vào ngày trăng tròn 16 tháng 2 âm lịch và
là ngày được quy định cho phép toàn quốc được nghỉ lễ trong vài ngày. Tất cả các
cửa hiệu buôn bán, siêu thị, chợ búa, các phương tiện giao thông công cộng đều
nghỉ cho đến 4 giờ chiều mới bắt đầu hoạt động trở lại. Điều làm tôi ngạc nhiên
là xã hội Ấn tuy rất lộn xộn nhưng lại rất đồng bộ. Vào ngày lễ thì họ đồng loạt
nghỉ chứ không có ý niệm tranh thủ làm kiếm tiền như ở các nơi khác. Đáng ngạc
nhiên nhất là các phương tiện công cộng như taxi, tàu metro đều đồng loạt nghỉ
lễ. Đây thật sự là một điều hiếm thấy, ngay cả bạn tôi ở Ấn gần 5 năm cũng chưa
hề biết phong tục này cho đến khi chúng tôi đến ga metro.
Theo tôi được biết, ngày lễ Holi rất có ý nghĩa. Đây là
ngày hòa giải, yêu thương và làm mới. Không có khoảng cách chia rẻ giữa cha mẹ -
con cái, các thành viên trong gia đình…. Tất cả những mâu thuẩn, buồn giận …giữa
các thành viên trong gia đình đều được xóa bỏ thay vào đó là tình yêu thương lẫn
nhau. Vì ý nghĩa thiêng liêng này mà hầu như mọi người đều hạn chế đi lại để
danh thời gian sum họp gia đình và thực hiện tinh thần làm mới.
Tại các ngôi đền hindu, các tín độ tập trung trước đó rất
đông để chuẩn bị nghe vị chủ giáo phái tuyên bố khai mạc theo giờ quy định.
Truyền hình trực tiếp phát đi những âm thanh và hình ảnh diễn ra tại ngôi đền
chính cho các tín đồ toàn quốc theo dõi. Đặc trưng của lễ hội này là tạt nước và
rảy hay trét màu đỏ vào người khác. Màu đỏ là màu biểu trưng của Hindu. Tạt nước
và trét màu là hành động biểu trưng tẩy rửa tội lỗi. Vào ngày này, không có sự
phân biệt thân sơ, quen lạ. Do đó, ai cũng có quyền trét màu hay tạt nước vào
người khác bất luận tuổi tác, dân tộc…nếu ai chưa biết phong tục này để tránh
thì sẽ bị bạn bè lôi ra tạt nước bôi màu lấm lem như anh hề trong kịch vui. Đối
với người Ấn thì đó là niềm vui, hạnh phúc; còn đối với người ngoại quốc không
thích thì đó là sự phiền tối dễ gây bực tức vì họ hy sinh một bộ đồ và một thời
gian dài để tảy rửa tấm thân cho hết màu. Bạn tôi đã từng trải nghiệm đau thương
nên có kinh nghiệm hoặc là đóng cửa trốn cho đến hết giờ, hoặc là tránh khu
người dân vui chơi tạt nước màu với nhau. Lễ hội này quy định bởi tôn giáo bất
kể là dơ sạch, đúng sai.
Vòng quanh Delhi
Được sự hướng dẫn của bạn, tôi đi tham quan Delhi gate
nằm trên một khu đất rộng chạy dài vài km đến nhà quốc hội. Nơi đây thường diễn
ra các cuộc diễu binh hay meeting lớn. Kế đến, chúng tôi đến thăm khu tưởng niệm
Mahatma Gandhi nơi ông bị ám sát vào năm 1948. Khu tưởng niệm xây dựng thành
hình vuông bao quanh bởi bốn bức thành dày 4m, cao 4m. Từ trung tâm nhìn ra bốn
hướng là bốn dãy bậc tam cấp dẫn lên trên thành. Từ trên bờ thành nhìn xuống là
khu trung tâm hình vuông, ở giữa là bệ tưởng niệm Gandhi. Nơi đây các cánh hoa
được đặt thành vòng tròn trên bệ đá để dâng cúng ông. Đặc biệt, ngọn đèn thắp
sáng nơi đây được xem là ngọn lửa linh thiêng và vào dịp các sự kiện quan trọng
diễn ra, ngọn lửa đều lấy từ đây đem đi. Các ngày lễ lớn, chính phủ đều đến đây
để dâng hoa tưởng niệm. Xung quanh bốn tường thành được thiết trí ghi chép lại
những lời vàng của Gandhi bằng chữ Hindi nhằm lưu truyền cho dân Ấn.
Địa điểm kế tiếp là nhà cầu nguyện của đạo Bahai. Ngôi
nhà màu trắng có kết cấu hình hoa sen. Bên trong không thờ bất cứ hình ảnh của
vị giáo chủ tôn giáo nào mà chỉ có các dãy ghế để cho du khách hay tín đồ đến
ngồi cầu nguyện trong im lặng. Đạo Bahai thừa nhận sự tồn tại thượng đế, và
thượng đế truyền qua ba đấng tiên tri Bab, Bahaullah, Abdulbaha và các sứ giả.
Nền quản trị của đạo Bahai gồm ba cấp quốc tế, quốc gia và địa phương. Đạo Bahai
có thành viên đại diện trong tổ chức liên hiệp quốc và các tổ chức quốc tế khác.
Nói chung, sự quản trị của đạo khá chuyên nghiệp, có nhiều tình nguyện viên được
đào tạo bài bản. Khi vào viếng nhà thờ và phòng triển lãm, du khách sẽ được các
tình nguyện viên phục vụ tận tình. Đạo này chủ trương dung hòa tất cả các tôn
giáo, trưng bày hình ảnh tất cả các tôn giáo lớn trên thế giới.
Địa điểm cuối cùng tôi đến là viện bảo tàng Delhi nơi
trưng bày một trong những xá lợi thật của đức Phật. Tháp thờ xá lợi hiện tại do
Thái Lan cúng dường. Xá lợi Phật là miếng xương nhỏ đặt bên trong tháp nhỏ.
Những hình ảnh du khách có thể nhìn thấy là hình phóng đại từ miếng xá lợi bên
trong. Tại đây, Phật tử có thể đảnh lễ xá lợi và tụng kinh. Viện bào tàng lớn và
chia nhiều khu nhưng chúng tôi chỉ viếng khu thờ xá lợi Phật. Trong phòng còn có
rất nhiều tượng Phật và các kiểu kiến trúc từ thời kỳ Mauryan – thời vua Asoka.
Từ những hình ảnh này, ta có thể nhận định về hình ảnh đức Phật được tôn thờ
hiện nay tại khắp nơi trên thế giới.
Thứ nhất, những gì trưng bày trong bảo tàng phản ảnh nền
văn hóa, nghệ thuật, điêu khắc đặc trưng của thời vua Asoka và các đời sau đó
đến thế kỷ 12 TL. Hình ảnh đức Phật cũng không ngoại lệ, nghĩa là hình tượng đức
Phật cũng thuộc các thời văn hóa này. Ta không dám chắc rằng những hình tượng
đức Phật này giống nguyên hình đức Phật khi còn tại thế.
Tượng Phật để tóc quăn/hình xoắn ốc là hình gốc của đức
Phật hay là sản phẩm của những thế hệ sau là câu hỏi chưa ai xác chứng. Ngay cả
32 tướng tốt, 80 vẻ đẹp cũng không hẳn là chủ trương của Phật vì tiêu chuẩn nào
để đánh giá là tốt, là đẹp thuộc hình tướng bên ngoài thì khó ai xác thực. Những
chi tiết kể ra chỉ là tượng trưng và không hẳn ai cũng đồng ý cho là đẹp. Cái
tốt, cái đẹp mang tính hạn hẹp của nền văn hóa bản địa thì ắt rằng Phật không
chủ trương và nếu có thì đó chỉ là mang tính đối phó với ngoại đạo thịnh hành
lúc bấy giờ.
Thứ ba, nhiều tượng Phật bị ảnh hưởng và mang dáng dấp
của nền văn hóa Hindu giáo vì những tư thế và cách ăn mặc của Phật không bao giờ
kỳ cục như vậy.
Có thể nói, tượng Phật là do các nghệ nhân sáng tạo ra
chứ không theo một mẫu nhất định nào như công nghệ sao chép ngày nay. Từ đó,
chúng ta dễ hiểu khi thấy tượng Phật Ấn Độ hoàn toàn khác tượng Phật của Trung
Quốc, Thái Lan…vì nghệ nhân ở đâu thì sáng tạo Phật giống ở đó. Đây cũng là nét
thích nghi của Phật giáo xưa và chúng ta nên tiếp tục phát huy.
Hình tượng làm tôi đặt câu hỏi nhiều nhất là tượng Phật
Di Lặc. Ngài chưa xuất hiện nhưng đã có các kiểu tượng rất khác nhau. Ở Ấn Độ
tượng Ngài giống kiểu tượng Tây tạng màu mè; trong khi đó tượng Di Lặc ở Trung
Quốc, Việt Nam thì phỏng theo vị Hòa thượng Bố Đại bụng bự, miệng luôn cười rất
dễ thương và gần gũi.
Thế thì, vấn đề cần quan tâm là nền văn hóa và sự sáng
tạo. Đạo Phật là đạo tùy duyên bất biến nên sự khác nhau là sự phản ảnh tinh
thần này. Trong khi Phật giáo ở các nước Ấn, Hoa, Thái…chủ động thích nghi và
sáng tạo nên những nét riêng của họ thì Phật giáo Việt Nam chưa bao giờ dám táo
bạo làm công việc này. Phật, Bồ tát, và ngay cả tăng ni Việt Nam cũng chỉ là bản
sao của Trung Quốc. Cho rằng ta phải nhớ ơn và theo chư tổ Trung Quốc thì tại
sao ta không trực tiếp theo đức Phật Ấn Độ - Đức bổn sư của ta. Phải chăng đây
là kết quả của ý thức tự ty, tiểu nông hay là ý thức xu nịnh, xính ngoại của dân
tộc Việt?! Đây vẫn còn là vấn đề tranh luận.
Sau một ngày ở Delhi, tôi tiếp tục đáp chuyến bay đến
Bodhgaya (Bồ đề đạo tràng). Đến phi trường Gaya, tôi được người quen đưa về chùa
Viên Giác (Vien Giac institute) – một trong các ngôi chùa Việt Nam tại Bồ đề đạo
tràng. Có thể nói, đây là một trong các ngôi chùa được biết nhiều nhất ở khu
này. Bởi vì, chùa này ở vị trí gần Bồ đề đạo tràng (đi bộ chỉ gần 10 phút); chùa
có biểu tượng chùa một cột bên trong; chùa có mục đích rõ ràng là phục vụ khách
hành hương lưu trú. Du khách hay Phật tử muốn ở thì đăng ký và đóng phí quy
định. Tăng ni thì có thể miễn phí. Ở đây, khách chỉ lo việc hành trì tu tập, mọi
thứ đều được nhân viên phục vụ gồm cả ăn uống ngày 3 bữa.
Ta biết rằng khí hậu ở Ấn Độ khắc nghiệt, lúc quá nóng,
lúc quá lạnh. Khách hành hương thường chọn đến Ấn vào mùa từ tháng 10 đến tháng
3 năm sau vì thời tiết mùa này là thích hợp nhất. Hơn nữa, mùa này các hãng hàng
không mở chuyến bay để đưa khách đi lại nên việc di chuyển dễ dàng hơn, giá cả
rẻ hơn. Vì điều kiện khách quan, các chùa ở đây chỉ hoạt động mạnh vào thời gian
như đã đề cập. Hết mùa, chùa vắng vẻ, hiếm người lui tới.
Theo tôi biết, dân Ấn Độ hiện tại khoảng 70% theo Ấn
giáo, gần 30% theo Hồi giáo, số theo Phật giáo, Thiên chúa giáo…chưa tới 1%. Đến
Ấn tôi học được câu châm ngôn vui là dân Ấn “hiền hiền nhưng hay làm tiền”. Dân
Ấn tương đối hiền và so với dân Việt thì hẳn là hiền hơn nhưng phổ biến là hay
làm tiền và xin tiền. Ở đâu cũng có thể gặp tình trạng này. Nó trở thành sản
phẩm đặc trưng của Ấn Độ.
Các trẻ em 2-3 tuổi đã biết xin ăn. Nhìn chúng và cha mẹ
chúng không thể tưởng tượng làm sao họ sống được. Điều kiện sống của họ thật
khủng khiếp, có lẽ còn thua xa đều kiện sống của các dân tộc thiểu số nghèo nhất
ở Việt Nam. Nói về ở dơ thì không có từ nào miêu tả, mỗi người tự cảm nhận thôi.
Dân Ấn xin tiền và nhận tiền trợ giúp của các đoàn từ thiện hay từ các chùa
nhưng họ không đi chùa tu tập. Họ chỉ biết xin, nhận vật chất mà thôi. Cho nên,
chùa xây lên không phải là để hướng dẫn tu tập cho người bản địa.
Khi nghe một vị nói xây chùa ở Ấn để mở khóa tu thì tôi
nghĩ là không thực tế hay nói chỉ để khoe thiên hạ. Lý do đơn giản là mở khóa tu
cho ai. Người Ấn thì không tu, người Việt thì ai tới. Nếu tham dự khóa tu thì họ
có thể chọn ở trong nước hay nơi họ cư trú cho tiện lợi và đủ điều kiện về giảng
dạy và hành trì. Người Việt chỉ có thể đến Ấn hay nơi xa nào đó tham dự khóa tu
khi nơi đó mở pháp hội và phải có vị nổi tiếng về như Ngài Đạt lai lạt ma, chẳng
hạn. Nếu không như thế thì ta có mở khóa tu cũng không ai tới vì không ai đánh
đổi thời gian và chi phí cao để lấy lại chút xíu kết quả. Kinh doanh như thế là
lỗ nặng!
Hầu hết Phật tử hành hương Ấn Độ là để chiêm bái và đảnh
lễ Phật tích. Mỗi nơi họ chỉ dành thời gian ngắn đủ để chiêm bái. Trừ Bồ đề đạo
tràng – nơi đức Phật giác ngộ và là nơi nhiều người quan niệm là linh thiêng và
hay cầu nguyện – là nơi nhiều người dành thời gian nhiều nhất để hành trì tụng
kinh, lạy Phật, ngồi thiền. Ai đã đến Bồ đề đạo tràng thì đều ra ngoài đại tháp
hành trì chứ không phải ở trong chùa. Có hai lý do.
Theo quan điểm mang chút mê tín thì cho rằng hành trì ở
đại tháp – nơi Phật giác ngộ sẽ được Phật và chư thiên gia hộ nên tu tập mau đạt
kết quả, cầu gì được nấy. Còn theo quan điểm nhân quả thì giải thích rằng tu tập
tại đại tháp dễ thành tựu hơn do nhận được lực tu của đại chúng tỏa ra. Tất
nhiên, nơi mà tất cả mọi người đến chỉ với mục đích hành trì thì năng lượng tỏa
ra là thiện và những ai trong đó ít nhiều đều được hưởng tùy theo cảm ứng. Còn
vấn đề đất linh thiêng là do quan niệm thần bí bởi nếu thật là do đất linh
thiêng tại sao Phật không cho xây tinh xá nơi đây và tại sao dân Ấn nơi đây muôn
đời vẫn cứ nghèo khổ. Theo tôi, hành trì tu tập chính là sự linh thiêng nhất
cũng như Phật đã dạy phép mầu nhiệm bậc nhất là giáo dục.
Đi rồi sẽ biết!
Varanasi là địa danh sở hữu một trong bốn Phật tích và
cũng là địa điểm linh thiêng, huyền bí vào hàng bậc nhất thế giới với dòng sông
hằng – còn gọi là dòng sông Mẹ. Để đến thành phố cổ này, từ Bodhgaya tôi mua vé
xe đò (coach) - một loại xe mà ở Việt Nam vào thập niên 80 dùng để chở khách đi
liên tỉnh – để bắt đầu hành trình khoảng hơn 250 km. Xe khởi hành 7h sáng và phụ
xe bắt đầu đón khách.
Trên đường đi xe liên tục dừng để đón khách và chất hàng
hóa. Chiếc xe đò liên tỉnh nhưng phục vụ không khác nào những chiếc xe bus nội
thành tức là có bao nhiêu khách cũng đón đến khi nào hết chỗ đứng thì thôi. Cũng
may là chiếc xe này chỉ chất hàng trên mui chứ chưa có người ngồi (những xe nội
tỉnh thì người ngồi trên mui là chuyện thường ở Ấn Độ). Xe chạy từ từ thoải mái
cho đến hơn 4h chiều mới đến nơi. Phải nói rằng tài xế xe ở Ấn Độ cũng thuộc
hàng cao thủ vì giao thông ở Ấn Độ thật lộn xộn nhưng cũng may là không quá
nhiều xe 2 bánh như ở Việt Nam.
Con đường liên tỉnh thì tương đối tốt, có sự ngăn cách
hai bên, mỗi bên 2 làn xe. Tuy nhiên, khi vào thành phố thì các con đường thật
là tệ, vừa nhỏ, vừa ổ gà ổ trâu, vừa dơ bụi. Xe cộ thì đông đúc chạy lộn xà
ngầu, kèn xe liên tục kêu đến nỗi inh tai, điếc óc. Những chiếc xe ba bánh cũ kỹ
nhưng cũng rất mạnh đưa tôi vào ký túc xá trường đại học. Sau đó, tôi tiếp tục
đi xe đạp thồ 3 bánh – một dạng xe như xe lôi ở miền tây nam bộ Việt Nam. Campus
trường đại học nào của Ấn cũng rất rộng, có nhiều cây xanh, và có đủ phương tiện
cho việc học tập, thể dục thể thao. Lưu nghỉ lại ở ký túc xá trường một đêm, tôi
lại có dịp đối mặt với muỗi (chắc Ấn Độ là đất nước nuôi muỗi vì khắp Ấn Độ đâu
đâu cũng nhiều muỗi).
Ban đêm đi dọc bờ sông hằng để cảm nhận vẻ linh thiêng
huyền bí mà bấy lâu nay được nghe và xem. Đi vào dịp ít du khách nên không gian
đi lại rất thoải mái. Dọc bờ sông, có vài chỗ người ta thực hành nghi lễ cầu
nguyện theo đạo Hindu với những sắc thái đủ kiểu. Nhạc mở hết cỡ không ai phàn
nàn gì cả. Dọc bờ sông cũng có các con thuyền lớn nhỏ để cho du khách thuê đi
lại trên dòng sông ngắm cảnh. Du khách có thể thuê thuyền đi lúc nào thích với
giá cả khác nhau tùy loại thuyền và thời gian đi lại.
Tại một nơi trên bờ sông hằng, các xác chết liên tục đem
ra để làm lễ rồi sau đó thiêu tại chỗ. Khi tôi đến thì có 3 xác đang thiêu, 2
xác đang chuẩn bị thiêu. Dường như không có từ đám chết hay đám tang ở Ấn thì
phải. Khi người thân chết, người ta quấn vào tấm vải, cột lại rồi để lên tấm ván
hay đồ khiên (đại loại như băng ca) có 2 cây đòn tay hai bên dài ra để có chỗ
cầm khiên đi. Các xác chết ở xa thì được để trên trần xe chở ra bờ sông rồi
người ta khiên xuống chỗ thiêu. Trước khi thiêu họ nhúng xác xuống dòng sông cho
ướt như là một nghi lễ rồi vớt lên chờ thiêu. Khi thiêu xác, họ không cho chụp
hình vì họ quan niệm rằng linh hồn sẽ về trời Phạm thiên, bất cứ điều gì xen vào
làm ô uế thì linh hồn không đi được. Mùi khét của xác chết bị đốt bay khắp nhưng
với dân Ấn thì dường như quen thuộc. Không có ai khóc lóc, thương tiếc gì hết.
Xác thiêu xong sẽ cho xuống sông, không có chuyện đem tro cốt về nhà hay thờ ở
đền chùa. Đặc biệt, chỉ có đàn ông mới thực hiện công việc này.
Chúng tôi nói đùa rằng nếu mà ở Việt Nam cũng làm tương
tự thì chắc quý thầy cô thất nghiệp dài dài vì đám ma đâu mà cúng. Các chùa cũng
thất thu vì không ai gởi cốt hay linh thờ. Suy ra, phong tục rờm rà ở Việt Nam
lại là cơ hội tốt cho Phật giáo tín ngưỡng có đất sinh hoạt. Tuy nhiên, chính lễ
nghi rờm rà cũng là tác nhân gây bao phiền toái và khổ đau cho người
sống.
Buổi sáng đi thuyền trên dòng sông Hằng ngắm mặt trời vừa
mọc in hình trên mặt nước thật là thú vị. Chúng tôi có dịp nhìn dân chúng sinh
hoạt thường nhật như vừa tắm, vừa giặt, vừa dùng nước cùng lúc trên dòng sông.
Thỉnh thoảng xác chết thiêu chưa hết trôi trên sông hay dạt vào bờ. Tôi nhìn
thấy một bộ xương chưa lâu trên bờ và các con chó thi nhau gặm ăn. Thật là ghê
rợn và kinh khủng đối với những du khách nhưng với người Ấn, nó trở nên bình
thường đến lạ lùng. Sống và chết trên cùng dòng sông!?
Tại sao người Ấn lại xem cái chết rất nhẹ nhàng như thế?
Tôi được nghe rằng, với họ khi sống thì sống cho hết mình và trọn vẹn ý nghĩa
(theo quan niệm của họ có lẽ là cầu nguyện) thì khi chết linh hồn về trời, thân
xác ô uế vứt bỏ không có gì tiếc rẻ. Cho nên, họ không có những tiếc mục than
van khóc lóc, hay tệ hơn là khóc mướn và nhiều thứ lễ nghi khác như ca hát, nhậu
trong đám tang….Đặc biệt, những niềm tin mê tín về trùng tang, kỵ tuổi, kỵ ngày,
động mồ mã… mặc nhiên không tồn tại nơi đất Ấn. Chúng tôi nói đùa, chắc cô hồn
đói ở Ấn rất nhiều vì chẳng có thầy cúng nào cúng cơm hay chẩn tế cho chúng
cả.
Tiếp tục hành trình, chúng tôi đến khu Phật tích ở
Sanarth, Banares (vườn Lộc Uyển, Ba la nại). Đây là nơi đức Phật thuyết bài kinh
đầu tiên có tên gọi là kinh Chuyển Pháp Luân. Nội dung bài kinh nói về bốn sự
thật: khổ, nguyên nhân của khổ, sự an lạc hạnh phúc hay Niết bàn và con đường
đưa đến Niết bàn. Di tích còn lại mà du khách có thể nhìn thấy là công trình của
các triều đại sau Phật tạo nên, đặc biệt là của vua Asoka. Trụ đá của vua Asoka
bị phá gãy nhưng vẫn còn giữ lại phần gốc. Các nền móng của các đền thờ, phòng
ốc vẫn còn trong khu đất này. Hiện tại, còn một cái tháp tròn cao mới được xây
dựng vào thế kỷ thứ 11. Trong khu bảo tồn này, ban quản lý dành một khu riêng để
nuôi các con hươu, nai như là để nhắc lại dấu tích vườn nai ngày xưa.
Xung quanh khu di tích, dần hình thành các ngôi chùa Phật
giáo của các nước như Tibet, Trung Quốc, Cam pu chia, Miến Điện….Cách xa khoảng
1 km, một ngôi chùa Việt Nam do sư Tường Quang đang xây dựng với mô hình là một
tượng Phật chuyển pháp luân lớn bằng đá ở giữa, phía trước hai bên là chùa một
cột và văn miếu, phía sau là hai dãy phòng 4 tầng có thể dung chứa khoảng 200
khách. Khi hoàn thành, đây là ngôi chùa Việt Nam duy nhất ở Phật tích này và có
thể phục vụ Phật tử Việt Nam đến nghỉ ngơi khi chiêm bái.
Sau một ngày tham quan, tôi về lại Bodhgaya cũng bằng xe
đò. Phương tiện đi lại từ Varanasi – Bodhgaya thật hiếm. Du khách sang thì có
thể chọn taxi với giá hơn 50 USD, nếu chọn tàu hỏa thì mỗi ngày có 1-2 chuyến
vào giờ khuya đến sáng sớm, còn xe đò thì một ngày chỉ có 1 chuyến khởi hành vào
lúc 12h30 khuya đi Gaya. Tôi chọn đi xe đò vì bến xe gần Bodhgaya và thời gian
hợp lý theo như đại lý bán vé nói.
Lúc mua vé, đại lý bán vé bảo là 9h tối xe chạy nhưng khi
tới nơi thì mới vỡ lẽ là 12h30. Vì lạ và lần đầu tiên đi nên chúng tôi ai cũng
hơi sợ khi phải đứng 1 mình chờ ở bến xe. Hơn nữa, xe thì không đậu tại bến mà
lại đậu cách đó 1km. Khoảng 9h tối, có hai người (sau mới biết là tài xế) tới
đón chúng tôi đưa tới chỗ xe rồi bảo trả tiền xe. Vừa thấy xe lạ, vừa nghĩ họ
lừa nên chúng tôi cãi với họ rồi bỏ đi lại chỗ cũ. Thế là chúng tôi phải trả
tiền xe đi về bến. Lúc này cảm thấy hơi lo âu vì trời càng về khuya, không quen
biết ai.
Chúng tôi tiếp tục điện thoại tới đại lý phàn nàn, rồi
nhờ người Ấn nói tiếng của họ cho dễ. Lúc ấy, bạn tôi bảo ra đứng bên ngoài chặn
họ lại chứ rủi họ cầm điện thoại chạy mất. Vừa lo mà cũng vừa mắc cười. Không lẽ
Ấn Độ tệ vậy sao! Bạn tôi còn bồi thêm vài câu chuyện là nhiều người bị giết rồi
vứt xác làm tôi sợ thêm. Nói một hồi lâu rồi chúng tôi cũng phải đón xe tới chỗ
họ xe đậu và tiếp tục trả tiền xe. Thành ra, chúng tôi tốn thêm tiền xe và con
bị tài xế dọa không cho đi. Nguyên nhân một phần là do đại lý báo giờ sai, một
phần là tài xế không biết tiếng Anh nên không bắt máy trong khi khách chờ xác
định có chính xác không.
Ở lại một mình để chờ xe chạy, tôi lại gặp mấy thằng
thanh niên nói tiếng Hindi chẳng hiểu gì cả. Thế mà chúng cứ hỏi hoài làm tôi
phải tránh xa chúng và cũng thêm lo sợ. Sau đó, thấy xe bậc điện nên tôi lên xe
ngồi chờ và bị thằng tài xế cự nự nhưng tôi chỉ hiểu qua thái độ thôi.
Ngồi trên chiếc xe cũ kỹ, nhảy như ngựa mong cho mau tới
nơi. Tưởng tối nó chạy mau, ai dè nó cũng đón khách và dừng nghỉ lâu nên đến gần
7h sáng tới. Một đêm trên xe để có dịp nếm thêm hương vị du lịch bụi nơi đất
Ấn.
Trúc Lâm xơ xác, Nalanda sử ghi
Di tích núi Linh Thứu (Gijjhakuta) được đề cập nhiều
trong kinh và đặc biệt theo tông phái đại thừa thì cho rằng Phật thuyết kinh
Pháp Hoa chính nơi đây. Chúng tôi có dịp đến viếng thăm và đảnh lễ Phật tích
này.
Bắt đầu từ Bodhgaya 4h sáng, chúng tối đến chân núi lúc
5h30. Đoạn đường dài 85km vào buổi sáng vắng vẻ nên xe chạy chỉ mất 1 tiếng
rưỡi. Từ chân núi chúng tôi leo lên đỉnh theo các bậc thang lát gạch phẳng và
rộng. Đây là con đường vua Bimbisara thường lên viếng Phật khi xưa. Trên đường
đi gần tới đỉnh, có hai hang đá được tin là của Ngài Xá-lợi-phất và Ngài A-nan.
Trên đỉnh Linh Thứu hiện tại chỉ là một nền đá tương đối bằng phẳng rộng chừng
20m2; trong đó, có một nền được bao quanh bởi các vách tường gạch cao nửa mét và
ở trong có thiết một chỗ để thờ đức Phật (nơi đây ngày xưa là hương thất của
Phật). Mọi thứ đơn sơ, không có nhà mái, không có bàn thờ Phật trang nghiêm.
Hiện tại, địa điểm này do người địa phương quản lý nhằm khai thác du lịch. Ai
lên đảnh lễ đều bị xin cúng dường, ghi sổ nhưng không biết nó đi về đâu và sử
dụng việc gì.
Tới đỉnh núi trước 6h sáng, chúng tôi đã thấy và nghe
tiếng của đoàn người Nhật Bản đang tụng kinh. Họ vừa tụng vừa đánh các pháp khí
gồm những chiếc trống nhỏ nghe cũng hay. Chúng tôi dâng hoa quả và tụng một thời
kinh ngắn trước khi trở xuống. Trong khi chúng tôi đang tụng kinh thì có các
đoàn Phật tử Đài Loan và Thái Lan. Họ tranh thủ chiếm không gian và đoàn nào
tụng kinh theo đoàn đó. Tôi được nghe rằng, dịp giữa tháng 3 trời bắt đầu nóng
nên ít người viếng chứ vào mùa hành hương thì Phật tử khắp nơi kéo về rất đông,
không có chỗ chen chân. Nhìn quanh đồi núi, những dây cờ có in chữ Tây Tạng treo
khắp và vẫn còn nằm đó mặc dù đã bạc màu.
Cũng như khắp các Phật tích khác, tình trạng ăn xin cũng
lan tràn. Một số thì kèo nài khách mua sách, hình ảnh; còn lại thì ngồi hai bên
đường niệm Phật xin tiền. Người Việt đến đây cũng thường xuyên nên họ dễ nhận ra
và lúc ấy họ nói tiếng Việt và niệm Nam mô A Di Đà Phật chỉ với mục đích đã
nói.
Rời núi Linh Thứu, chúng tôi đến viếng rừng Trúc (tức
Trúc Lâm – Veluvan/na) – một nơi được cho là của Vua Bimbisara cúng cho đức Phật
sau khi Ngài thành đạo và đến thăm vua như lời hứa trước đó. Theo sử ghi, khi
Phật đến thăm vua thì Phật đã độ 3 anh em Ca Diếp cùng với 1000 đệ tử. Tất cả họ
đều trú tại rừng trúc này nên có lẽ diện tích lúc ấy của nó cũng tương đối rộng
rãi và mát mẽ. Do thời gian và con người tàn phá, hiện tại dù người ta tạo dựng
lại để thu hút khách hành hương nhưng vào bên trong chúng tôi không khỏi ngạc
nhiên. Trúc Lâm giờ đây chỉ là một vườn hoang xơ xác, toàn là cây bạch đàn, cây
xoài và vài bụi tầm vong, trúc. Yếu tố còn lại để cho đây là Phật tích chính là
một tượng Phật và hồ nước phía trước. Theo sử ghi thì đây là hồ Phật thường tắm.
Vậy mà, khi vào cổng khách hành hương phải trả 70 rupees (1,5 đô la). Ngoài ra,
trong vườn còn có một căn nhà nhỏ có thờ Phật nhưng ai vào lễ thì sẽ bị đòi
tiền. Nhiều người thấy mời vào lễ Phật tưởng họ tốt, không ngờ họ gài bẫy đòi
tiền. Dân Ấn Độ là vậy.
Tiếp theo chuyến đi, chúng tôi viếng phế tích đại học
Nalanda – một trường đại học lớn nhất của Phật giáo cho tới hiện tại. Chỉ nhìn
những tàn tích khai quật được, chúng ta có thể thấy quy mô và tầm vóc của nó thế
nào. Phải công nhân là chư vị tiền bối có tầm nhìn xa rộng khi kiến thiết xây
dựng ngôi trường này. Tường dày đặc 2-3 mét rất chắc chắn và có thể tồn tại cả
ngàn năm nếu không bị con người tàn phá. Trường khá rộng và chia nhiều
khu.
Các khu cho sinh viên ở thì kiến trúc gần giống nhau và
rất dễ quản lý. Mỗi khu khoảng 20 – 30 người sinh hoạt chung với nhau. Có lẽ, họ
phân công các vị quản chúng coi sóc việc sinh hoạt trong mỗi khu. Mô hình này
nếu áp dụng cho ngày nay cũng rất hay vì nó giống như quân đội chia thành các
tiểu, trung đội để quản lý và sách tấn tu học.
Các khu chánh điện thờ Phật xây dựng riêng với kiến trúc
cầu kỳ và sắc sảo hơn. Chúng tôi tham quan một số điểm chính mà không đi hết vì
nó khá rộng cần dành nhiều thời gian và cũng vì lý do là bị quấy rầy. Vào cỗng
tham quan mua vé 100 rupees nhưng khi vào trong nếu mấy ông bảo vệ đi theo chỉ
chỏ là một hồi họ xin tiền. Muốn đi bình yên để khảo sát cũng không được với
những người này.
Ngoài 3 điểm trên, còn một số di tích liên quan đến Phật
giáo khác như các hang động, di tích của Ngài Huyền Trang… nhưng chúng tôi chưa
đi đến.
Theo kinh sách chép, ngày xưa, vùng này là thuộc nước
Ma-kiệt-đà hùng mạnh và trù phú. Trải qua bao thăng trầm lịch sử, khách hành
hương đến đây ngoài 2 địa điểm là Linh Thứu thiêng liêng và phế tích đại học
Nalanda lừng danh một thuở đáng chiêm bái; còn lại cuộc sống vẫn nghèo nàn, dân
tình vẫn khốn khổ. Nó không nói lên được vị thế hùng tráng một thời của thủ đô
cổ này. Đây chỉ là cảm nhận của người viết trong một lần hành hương.
Con về đảnh lễ Thứu sơn
Thành tâm tưởng niệm tri ơn Cha lành
Người vì nhân loại, chư thiên
Vân du, giáo hóa, mọi miền thuyết kinh
Trải bao ngàn kiếp tử sinh
Thọ thân cùng tử, bởi vì vô minh
Nay thời phát nguyện trì kinh
Nương theo Phật tổ, sửa mình tiến tu



02:49
oneillhekhih6165