This is featured post 1 title
Replace these every slider sentences with your featured post descriptions.Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these with your own descriptions.
This is featured post 2 title
Replace these every slider sentences with your featured post descriptions.Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these with your own descriptions.
This is featured post 3 title
Replace these every slider sentences with your featured post descriptions.Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these with your own descriptions.
Chủ Nhật, 2 tháng 12, 2012
Thông Bạch Ngày Tiếp Nối 2012 của HT Thích Nhất Hạnh
"Nếu
quý vị, trong mỗi bước chân, trong mỗi hơi thở mà có pháp lạc của Thầy thì quý
vị trên hình thức tuy mặt mũi không giống Thầy mà trong nội dung lại là sự tiếp
nối đích thực của Thầy. Cho nên pháp môn vô tướng trong tam giải thoát môn là
rất quan trọng để ta chúng ta nhận diện được thế nào là sự tiếp nối đích
thực"
Các
con đã tiếp nối Thầy được bao nhiêu?
Ở
Làng Mai, chúng ta không nói “Mừng ngày sinh nhật” mà nói “Mừng ngày tiếp nối”
(Continuation Day). Tiếp nối cái gì? Và ai tiếp nối ai? Hôm nay chúng ta quán
chiếu về sự tiếp nối của Thầy trong Thầy và trong các con của Thầy, xuất sĩ cũng
như cư sĩ. Các con tiếp nối Thầy nghĩa là sao? Sự tiếp nối có hai phần, nơi thân
tâm mình và nơi thân tâm những người được tiếp nhận những gì mình truyền trao.
Bụt có dạy về trao truyền như sau: người trao
truyền, người nhận trao
truyền và vật được trao
truyền là một. Tam luân không tịch.
Không có chủ thể trao truyền, không có người nhận trao
truyền, chỉ có sự trao truyền, thế thôi.
Trao
cái gì? Trước nhất là trao bước chân. Các con đã đặt được trên mặt đất từng bước
chân chánh niệm hay chưa? Thầy muốn nói đến chùa Tổ Từ Hiếu là nơi Thầy được Sư
Cố là Hòa Thượng Chân Thật giao cho trách nhiệm Trụ Trì. Thầy mong rằng quý thầy
và quý sư cô bên chùa Tổ thực hiện ngay được sự tiếp nối của Thầy trong từng
bước chân và hơi thở của mình. Các con hãy đặt từng bước chân chánh niệm từ
phòng ngủ đến nhà vệ sinh, từ nhà vệ sinh đến nhà trà, từ nhà trà lên thiền
đường. Các con phải thực sự tiếp nối Thầy trong từng hơi thở và từng bước chân.
Suốt sáu mươi năm qua Thầy đã liên tục trao truyền những kinh nghiệm, những thao
thức và những hoài vọng của Thầy cho bao nhiêu người qua cách Thầy nói năng, đi
đứng, ăn uống và chấp tác trong chánh niệm, qua những cuốn sách Thầy đã viết,
qua những lời Thầy thuyết giảng, hoặc trước quần chúng đông đảo, hoặc cho từng
nhóm nhỏ hoặc cho từng người. Các con đã tiếp nối Thầy được đến bao nhiêu
rồi?
Thiền
đi trong Tịnh độ
Thầy
đã trao truyền Tịnh Độ Hiện Tiền. Thiền đi trong Tịnh Độ. Xin chùa Tổ đừng xao
nhãng sự thực tập Thiền Đi trong Tịnh Độ mỗi ngày. Mọi người cùng đi trong chánh
niệm ngoài trời, mỗi ngày một lần, đó là buổi thực tập thiền hành chung. Ngoài
ra còn đi riêng từ phòng mình đến nhà ăn, từ nơi này đến nơi kia, từ tăng xá đến
nơi chấp tác... Trong giờ Thiền Đi Trong Tịnh Độ xin không nên vắng mặt bất cứ
ai. Trong giờ thiền tọa cũng thế. Xin ghi lý do vắng mặt khi phải vắng mặt. Thầy
đã trao truyền chánh niệm, năm phép thực tập chánh niệm và hơi thở ý thức mỗi
khi có cảm xúc mạnh hay có cảm thọ buồn tủi hay đau đớn phát hiện để mà ôm ấp,
nhìn sâu, làm phát khởi lòng từ bi và chuyển hoá.
Vào
ngày chánh niệm khi các vị cư sĩ đến tham dự thì mình cùng đi Tịnh Độ với các
vị ấy. Để mọi người có thể thấy được là cõi Tịnh Độ nói trong kinh không phải là
một mơ ước xa vời mà là cái có thể đạt được ngay trong giây phút hiện tại. Sau
pháp thoại ngày Chủ nhật, xin đề nghị mọi người nghỉ ngơi chừng mười lăm phút
rồi tập họp trước chánh điện để cùng Đi Tịnh Độ. Chúng ta có thể đi ngang hồ Sao
Hôm, hồ Sao Mai rồi lên đồi Dương Xuân để cùng ngồi xuống trên Tịnh Độ, thở và
thấy được sự có mặt của cõi Tịnh Độ bây giờ và nơi đây. Mình cũng ý thức và cảm
nhận được sự có mặt của nhau, đó là mình đang thật sự ngồi chơi với nhau trong
Tịnh Độ. Chúng ta đã làm được điều này trong các chuyến về của Thầy vào những
năm 2005, 2007 và 2008. Mỗi người trong chúng ta đều đã có kinh nghiệm về điều
đó. Chúng ta phải tiếp tục, phải hướng dẫn cho kỹ lưỡng mỗi khi có người Phật tử
cư sĩ tới chùa. Phải có một tập sách hướng dẫn để mọi người đọc, hiểu và đi được
trong Tịnh Độ. Người xuất sĩ hay người cư sĩ nào tới chùa Tổ cũng có thể làm
được việc đó, đi trong Tịnh Độ bây giờ và ở đây.
Không
cần xây tháp cho Thầy
Thầy
không muốn sau này quý vị xây cho Thầy một ngôi tháp ở Tổ Đình. Xây tháp như thế
sẽ không có ý nghĩa gì nếu ngày hôm nay quý vị không nối tiếp được những gì Thầy
đang trao truyền. Thầy rất không thích chuyện lấy một mớ tro từ hình hài của
Thầy rồi bỏ vào trong một cái hũ, rồi đặt vào trong tháp. Thầy không phải là cái
nắm tro đó. Không có lý Thầy chỉ là cái nắm tro ấy hay sao? Thầy nhiều hơn cái
nắm tro đó. Thầy là một thực tại linh động, đang sống, đang có mặt khắp nơi.
Trong các sư chú và các sư cô đều có Thầy, trong các vị cư sĩ quen biết đều có
Thầy. Ở chỗ nào mà có thiền hành, thiền tọa, có pháp đàm, có ăn cơm yên lặng, có
Sám Pháp Địa Xúc là có Thầy. Không được nhốt Thầy, bỏ Thầy vào trong một cái hũ
nhỏ rồi đặt Thầy vào trong một cái tháp. Thầy không muốn Thầy có một cái tháp.
Tốn đất chùa vô ích. Sư Thầy Đàm Nguyện đã xây cho Thầy một cái tháp ở chùa Đình
Quán. Đã lỡ xây rồi thì phải ghi lên trước tháp mấy chữ: “Trong này không có
gì.” Thầy không nằm trong tháp ấy đâu. “There is nothing inside”. Nếu
người ta vẫn chưa hiểu thì ghi thêm một câu nữa “Ngoài kia cũng không có gì.” Và
nếu vẫn còn chưa hiểu thì ghi thêm một câu chót là “Nếu có gì thì nó có trong
bước chân và hơi thở của bạn.” Đó là điều Thầy căn dặn các Thầy các sư cô ở chùa
Đình Quán Hà Nội và ở Tổ Đình. Đừng phí thì giờ nghĩ đến chuyện tìm đất xây tháp
cho Thầy. Đó không phải là điều Thầy nghĩ tới. Nếu có một tảng đá có sẵn thì để
vào trong hốc đá bản thảo của một cuốn sách của Thầy như
cuốn Phép Lạ Của Sự Tỉnh Thức thì tảng đá đó
có Thầy nhiều hơn là một cái tháp trong đó có một nắm tro. Đem tro mà rải hết ra
ngoài để nuôi cây nuôi cỏ, cho cỏ cho cây lớn lên. Đừng có ngăn ngừa sự tiếp nối
của nắm tro ấy.
Tổ
Đình cần tu học theo pháp môn Làng Mai một trăm phần
trăm
Đứng
về phương diện tu học, Thầy muốn Tổ Đình phải theo pháp môn Làng Mai một trăm
phần trăm. Pháp môn ấy là công trình của Thầy đã xây dựng nên. Có nhiều tôn túc
đã xây nên những ngôi phạm vũ thật huy hoàng. Đó là công trình lớn lao của quý
ngài. Nhưng công trình của Thầy không phải là một tòa phạm vũ nguy nga mà là
những pháp môn tu học có công năng chuyển hoá và trị liệu được cho người đương
thời.
Ngôi
tháp của Thầy: các pháp môn tu tập
Các
pháp môn tu tập ấy chính là cái tháp của Thầy. Ở Pháp Vân hay ở Tổ Đình đều phải
có cái Tháp ấy. Không phải một cái tháp bằng gạch, bằng xi măng mà là một cái
tháp của sự thực tập. Tất cả các thầy, các sư cô, các sư chú và các vị Phật tử
cư sĩ tới, ai cũng được mời đi vào cái tháp đó. Nghĩa là phải
học đi trong chánh niệm, uống trà trong chánh niệm,
biết nói năng cho từ ái và biết lắng nghe nhau.
Phương
cách quản trị
Thầy
không muốn Tổ Đình được quản trị theo phương cách cổ điển. Thầy muốn Tổ Đình
được chăm sóc, quản trị theo tinh thần mới, trẻ và dân chủ. Và sau này chức vụ
Trụ Trì sẽ được hội đồng tỳ kheo công cử mỗi ba hoặc năm năm. Công cử người nào
có khả năng sống chung hạnh phúc với cả chúng, có khả năng tiếp xúc và đến được
với mọi người. Công cử một vị nào mà cả chúng tin cậy và thương yêu, dù vị đó
còn trẻ tuổi như Thầy Pháp Hữu ở Xóm Thượng. Thầy muốn Tổ Đình sẽ tổ chức theo
mô thức của Làng Mai. Phải có một Hội Đồng Tỳ Kheo để quyết định tất cả những gì
cần quyết định ở Tổ Đình. Đó là cơ quan lập pháp tối cao của Tổ Đình. Mọi quyết
định đều phải do Hội Đồng Tỳ Kheo đưa ra. Bất cứ một vị tỳ kheo nào cũng phải
nói lên tiếng nói về cái thấy của mình trong Hội Đồng Tỳ Kheo. Đồng ý và quyết
định xong thì là vị tỳ kheo đã làm xong nhiệm vụ. Cái quyết định tối hậu là do
Tác Pháp Yết Ma của Hội Đồng Tỳ Kheo làm ra. Thầy muốn Tổ Đình bắt đầu tổ chức
như vậy ngay từ bây giờ. Tổ Đình cử ngay một Ban Chăm
Sóc (Care Taking Council – CTC) hoặc gọi cách khác
là Ban Điều Hành.
Nhân
dịp này, Thầy muốn công cử Thầy Từ Hải đứng ra thành lập ban ấy, tức là Ban Chăm
Sóc của Tổ Đình. Thầy Từ Hải tuy còn trẻ nhưng được các Thầy trong chúng tin
tưởng và yêu mến. Xin Thầy Từ Hải đứng ra lập ngay một Ban Điều Hành trong đó có
nhiều chức vụ. Và ban ấy sẽ làm việc dưới sự chỉ đạo của Hội Đồng Tỳ Kheo. Hội
Đồng Tỳ Kheo quyết định cái gì thì Ban ấy chấp hành và làm theo quyết định đó.
Các Thầy lớn, các sư anh lớn, các sư chị lớn đều sẽ đứng sau lưng để yểm trợ. Đó
là cơ quan hành pháp của Tổ Đình, chung cho cả Từ Hiếu và Diệu Trạm. Nếu cần
phải tiếp một vị Tôn Túc hoặc chủ tọa một buổi lễ lớn thì Ban Chăm Sóc có thể
thỉnh mời các vị lớn tuổi như Hòa Thượng Chí Mãn hay Thượng Tọa Từ Đạo v.v… Thầy
muốn Tổ Đình đi theo mô thức đó. Lâu lâu nếu cần thì phải ngồi lại để bổ túc và
thay đổi nhân sự của Ban Điều Hành. Sau ba, bốn năm hoặc năm năm thì Hội Đồng Tỳ
Kheo có thể đề nghị một vị khác thay thế. Nếu vị trưởng ban làm việc giỏi quá
thì có thể lưu lại thêm một nhiệm kỳ nữa. Tuy Thầy chưa viết xuống những điều
này thành văn bản, tuy đây không phải là lời di chúc nhưng đó là tuệ giác của
Thầy, là những ước muốn đích thực của Thầy khi Thầy còn sống. Nếu quý vị có
thương Thầy, có tin Thầy thì phải lập tức làm theo. Còn nếu không làm theo thì
sau này việc xây tháp, cúng giỗ, kỷ niệm, đọc điếu văn v.v... đều là những điều
vô nghĩa. Thầy nghĩ rằng cách thức này là cách thức hay nhất để mình tổ chức một
tu viện.
Ở
Tây phương, các tu viện lớn của Cơ Đốc Giáo cũng đã bắt đầu tổ chức như vậy.
Chính họ bầu lên vị lãnh đạo của họ và cứ ba năm hay năm năm thì bầu lại một
lần. Những thầy nào, những sư cô nào, những sư chú nào không thực hành theo quy
chế và mệnh lệnh của Đại tăng, không chịu đi theo quy luật của tu viện thì sẽ
không được ở lại Tổ Đình. Bởi vì nếu để họ ở lại thêm ở Tổ Đình thì sẽ làm hư
những người khác. Đó là những điều Thầy muốn chia sẻ chiều nay. Nếu muốn tiếp
nối Thầy thì đó là cách tiếp nối hay nhất. Còn nếu không làm được những cái đó
thì đừng có chúc thọ, đừng hát Happy Continuation
Day, vì như thế thì không có nghĩa gì hết. Thầy muốn Tổ Đình
đi theo pháp môn của Làng Mai. Đó là công trình xây dựng của Thầy sau sáu mươi
năm tìm tòi và phát triển, đó là một cái tháp mà Thầy đã dựng
lên.
Hôm
nay chúng ta hãy sống với nhau cho có hạnh phúc, hãy đi đứng, nói cười và tiếp
xử với nhau cho có hạnh phúc thì đó mới chính là good
continuation. Điều đó phải xảy ra từng ngày. Đám mây
sẽ không có đau buồn gì khi nó không còn mang hình tướng của đám mây tại vì nó
biết rằng nó đã thành mưa, mà thành mưa thì nó vẫn tiếp tục đời
sống phụng sự của nó. Và khi đám mưa không còn nữa thì mình lại thấy có dòng
suối và dòng suối lại tiếp tục sứ mạng của cơn mưa. Và vì vậy cho nên không có
cái gì chết, không có cái gì mất đi cả.
Tiếp
nối vô tướng
Chúng
ta thường kẹt vào hình tướng quen thuộc. Vì vậy cho nên ta hay khóc thương khi
thấy cái hình thức quen thuộc ấy không còn nữa. Khoa học bây giờ có thể dùng
phép cloning để có thể tạo ra một ngàn đứa bé giống hệt như hồi Thầy còn bé.
Chỉ cần lấy ra vài ngàn tế bào của Thầy là làm được chuyện này. Một ngàn đứa bé
ấy sẽ giống nhau như đúc và giống như Thầy hồi còn bé. Cũng giống như hai chị em
sinh đôi của sư cô Thi Nghiêm là Thuận với Thảo. Các vị có thể thích thú nhìn
các cậu bé ấy chơi đùa, nói cười rất giống Thầy hồi còn bé. Nhưng những cậu bé
ấy không phải đích thực là Thầy, dù trong mỗi đứa cũng có những hạt giống tốt và
những hạt giống không tốt của Thầy. Nếu chúng không gặp minh sư, không có môi
trường tu học, không đi qua những thử thách như Thầy thì chúng cũng không phải
là sự tiếp nối đích thực của Thầy. Nhưng nếu quý vị, trong mỗi bước chân, trong
mỗi hơi thở mà có pháp lạc của Thầy thì quý vị trên hình thức tuy mặt mũi không
giống Thầy mà trong nội dung lại là sự tiếp nối đích thực của Thầy. Cho nên pháp
môn vô
tướng trong tam giải thoát
môn là rất quan trọng để ta chúng ta nhận diện được
thế nào là sự tiếp nối đích thực.
Thiền
sư Thích Nhất Hạnh
Thứ Sáu, 19 tháng 10, 2012
Đọc rồi suy nghiệm
|
Ảnh hưởng Phật giáo trong Lễ Tang người Việt
Trong một kiếp người, hầu như ai cũng trải qua những
phong tục được gọi là “quan, hôn, tang, tế.” Nếu như ‘quan’ có nghĩa là đánh dấu
sự trưởng thành của người nam (theo tục xưa), thì ‘tang’ lại là sự kết thúc một
kiếp người và thường biểu hiện qua sự sầu đau, khổ não. Tôn giáo, dù nhất thần,
đa thần hay thậm chí vô thần, đều ít nhiều hướng dẫn các cách thức trợ giúp
người ra đi và gia quyến của họ. Phật giáo, khi mới thành lập, không hướng dẫn
lễ cầu nguyện mà chỉ dạy cách trợ niệm cần thiết để giúp người sắp chết ra đi
nhẹ nhàng theo nghiệp; nhưng khi Phật giáo được truyền sang các nước có nền văn
hóa Khổng, Lão như ở Trung Quốc, Việt Nam…thì việc cầu nguyện cho người chết trở
nên không thể thiếu, đặc biệt là Phật giáo Tịnh độ. Trong bối cảnh hầu hết các
chùa ở Việt Nam đều theo tông Tịnh độ và các tín đồ có niềm tin Phật giáo đều
mong muốn có nghi lễ cầu nguyện của Phật giáo trong lễ tang của người thân,
người viết xin được đề cập về ‘ảnh hưởng Phật giáo trong lễ tang người Việt.’
Trong phạm vi này, bài viết sẽ nêu ra một số ảnh hưởng tích cực cũng như sự hạn
chế của Phật giáo trong quá trình thích nghi. Từ đó, một số ý kiến cá nhân đưa
ra như là sự tham khảo nhằm khắc phục những điểm bất cập và phát huy vai trò của
đạo Phật trong nền văn hóa dân tộc Việt.
Có thể khẳng định rằng đức Phật không dạy một nghi thức
cầu nguyện nào về lễ tang, ngoại trừ những bài kinh có nội dung trợ niệm cho
người sắp qua đời. Sự thật này được tất cả các truyền thống Phật giáo chấp nhận.
Tuy nhiên, các nghi lễ cầu nguyện dành cho lễ tang lại được chư Tổ soạn ra nhằm
mục đích phục vụ nhu cầu tín ngưỡng quần chúng và làm phương tiện độ sanh. Tồn
tại cùng với nền văn hóa bản địa ở Trung Quốc cũng như Việt Nam, các tôn giáo
ngoại nhập buộc phải thích nghi để tồn tại và một trong những thích nghi quan
trọng là nghi lễ cầu nguyện. Mặc dù vậy, nghi lễ Phật giáo lại không đóng vai
trò nòng cốt trong một lễ tang của tín đồ Phật tử Việt Nam mà nó chỉ chiếm một
phần nhỏ quan trọng trong nhiều yếu tố pha trộn bao gồm tôn giáo và tập tục. Vậy
thì, ảnh hưởng của Phật giáo trong lễ tang như thế nào?
Về hình
thức
Thông thường khi một tín đồ Phật giáo sắp qua đời, họ
thường thỉnh tăng ni đến để hộ niệm. Việc làm này là hợp với lời Phật dạy dù
cách thức có khác. Tuy nhiên, trường hợp không mời được tăng ni đến thì phần lớn
tín đồ không biết cách thức hộ niệm cho người thân của mình. Có thể nói đây là
một điều thiếu sót của Phật giáo trong việc hướng dẫn tín đồ Phật tử, và một
phần do quan niệm đề cao về năng lực cứu độ của người xuất gia.
Khi một người đã qua đời, công việc đầu tiên người thân
chuẩn bị cho lễ tang là xem ngày giờ, thậm chí tuổi tác kỵ, hạp. Công việc này
nhiều nơi là do chính tăng ni thực hiện. Sau khi chuẩn bị các thủ tục và vật
dụng cần thiết xong, tăng ni được thỉnh đến cử hành lễ nhập liệm. Liệm xong, một
án thờ được thiết lập trước quan tài với tấm phủ nghi phía trước (hoặc thêm bức
thờ tùy địa phương) có những dòng chữ Hán nói về sự đau buồn và về đạo hiếu,
tình nghĩa vợ chồng… Ngoài ra, một lá triệu (còn gọi là minh tinh) và vàng mã
cũng được chuẩn bị. Trong thiết trí, một điều không thể thiếu liên quan đến Phật
giáo là thiết lập bàn thờ Phật để tụng kinh cầu nguyện.
Như vậy, về hình thức, lễ tang biểu hiện có sự ảnh hưởng
của Phật giáo qua ba yếu tố gồm hình tượng Phật hay Bồ tát, sự hiện diện của
tăng ni hay cư sĩ Phật tử, và lời kinh Phật được tán tụng. Trong ba yếu tố trên
thì sự hiện diện của tăng ni là yếu tố quan trọng nhất biểu hiện sự ảnh hưởng
của Phật giáo trong lễ tang. Kế đến là sự có mặt của cư sĩ (khi không có tăng
ni) và sau cùng là chỉ có hình tượng Phật hay Bồ tát. Thông thường, hình tượng
Phật chỉ được tôn trí khi có sự hiện hiện của tăng ni hay cư sĩ, nên yếu tố con
người hành lễ luôn quyết định. Ngoài ra, các yếu tố khác được xem là quan trọng
trong lễ tang như chọn ngày giờ tốt, kỵ tuổi tác, mặc đồ tang, đốt vàng mã, khóc
than, lễ lạy, v.v…đều là tập tục hay sự ảnh hưởng từ tôn giáo khác. Như vậy, nếu
lễ tang không có tăng ni hay cư sĩ đến tụng niệm thì yếu tố Phật giáo hầu như là
vắng mặt.
Về nội
dung
Một yếu tố quan trọng hơn biểu hiện sự ảnh hưởng tích cực
của Phật giáo trong lễ tang là nội dung đóng góp của nó. Khi một người thân qua
đời, gia quyến thường bối rối vì một phần bị tình cảm chi phối và một phần do
không rành các tập tục quy định. Hơn nữa, sự đau buồn thương tiếc và lòng hiếu
thảo hay ân nghĩa luôn thúc giục họ làm điều gì đó hữu ích cho người quá cố, và
sự siêu độ hay vãng sanh là điều họ mong muốn. Do đó, tăng ni luôn là điểm đầu
tiên họ tìm đến nương nhờ. Sự có mặt của tăng ni và sự hướng dẫn nhiệt tình,
khôn khéo của họ sẽ giúp cho gia quyến an ủi phần nào và tạo cho họ cũng như
những người xung quanh những hình ảnh đẹp về Phật giáo. Đó là nội dung ‘pháp
sinh động’ của đạo Phật đang được tuyên dương.
Trong suốt lễ tang từ khi liệm, cúng cơm cho đến hạ
huyệt, nhiều bài kinh được tán tụng để cầu nguyện. Có lẽ không sai khi nói rằng
hiếm ai đủ tập trung để nghe và hiểu hết ý nghĩa những lời kinh Phật được trì
tụng trong suốt thời gian lễ tang cho dù nó được dịch ra tiếng Việt. Huống chi,
kinh điển trì tụng thường là âm Hán – Việt và thường tăng ni không giảng giải ý
nghĩa trước khi trì tụng. Hiếm lắm mới có trường hợp thuyết linh nhưng đó cũng
là chỉ cách ‘chữa lửa’. Do vậy, ảnh hưởng của Phật giáo không phải là do nội
dung các bài kinh được tụng mà là ‘những bài pháp sống động’ do chính tăng ni
thể hiện qua tam nghiệp của họ. Nếu tam nghiệp thanh tịnh thì họ sẽ cảm hóa được
cả người mất lẫn kẻ còn, bằng ngược lại thì hiệu quả khó đoán biết.
Những điều suy
ngẫm
Như trên vừa trình bày, ảnh hưởng Phật giáo trong lễ tang
chỉ phát huy khi tăng ni hay ít nhất là các cư sĩ trong ban hộ niệm có mặt. Vậy
là các lễ tang thiếu hình bóng họ cũng có nghĩa là không có hay có rất ít sự ảnh
hưởng của Phật giáo, dù cho gia đình ấy có niềm tin đạo Phật. Rõ ràng, tăng ni
không thể nào đủ để đảm trách việc tang ma với số lượng tín đồ Phật tử như hiện
nay, và nhất là không thể nào có mặt kịp thời để hộ niệm tất cả tín đồ sắp qua
đời. Vả lại, không lẽ sự nghiệp của người xuất gia là chỉ chờ làm công việc ấy
sao?! Điều đáng nói nữa là nhiều gia đình mời tăng ni đến nhưng không hoàn toàn
tin tưởng năng lực hộ niệm của tăng ni và giáo lý nhân quả của đạo Phật nên họ
buộc các tăng ni phải theo giờ giấc khắc khe mà họ đã đi xem trước. Từ đó, mức
độ ảnh hưởng của Phật giáo có thể suy biết được.
Lại nữa, chúng ta hay tự hào đạo Phật một thời là quốc
giáo và có ảnh hưởng nhiều nhất trong nền văn hóa dân tộc Việt nhưng sự ảnh
hưởng của Phật giáo trong nền văn hóa dân tộc lại là điều đáng suy ngẫm. Trong
tất cả các lễ hội thì đạo Phật, như một sự mặc định, có sự gắn kết với lễ tang
nhiều nhất. Sự mặc định cao đến độ thấy tăng ni đi đến đâu thì người ta thường
nghĩ là có người sắp ra đi? Vậy mà, qua lễ tang của tín đồ Phật tử, ta thấy hầu
như là các phong tục tập quán, thậm chí là mê tín, vẫn chiếm phần lớn. Đây có
phải là điều đáng suy ngẫm chăng?!
Giải pháp
nào
Đạo Phật vốn độ sanh chứ không phải độ tử nhưng ngày này
thì kiêm cả hai. Tuy nhiên, cốt tủy của đạo Phật vẫn phải là độ sanh và do đó
phải đi theo hướng này. Muốn vậy, Phật giáo cần tập trung chú trọng vào người
đang khỏe mạnh để hướng dẫn họ đi đúng chánh pháp hơn là chỉ phục vụ tín ngưỡng.
Khi họ có niềm tin kiên cố vào chánh pháp thì tất yếu họ sẽ theo các nghi thức
Phật giáo để tổ chức lễ tang mà không phải lo sợ. Một nghi thức Phật giáo cần có
để tất cả cư sĩ Phật tử nương theo thực hành khi chưa có hay không có tăng ni.
Nó cần có những nội dung hướng dẫn rõ ràng từ cách thức tổ chức đến các kinh trì
tụng, bắt đầu từ khi hấp hối cho đến an sàng. Phật giáo thừa sức làm việc
này.
Đối với những người chỉ tìm đến đạo Phật khi có hữu sự
thì cần thiết phải xác định niềm tin của họ đối với Phật giáo và tăng ni. Một
khi đã tin tưởng tăng ni thì nhất thiết phải tuân theo sự hướng dẫn của họ để tổ
chức lễ tang. Những người này sẽ trở thành cư sĩ Phật tử tương lai nếu họ thấy
được giá trị đạo Phật thông qua phẩm hạnh của tăng ni trong suốt lễ tang. Do
vậy, cần phải đào tạo những tăng ni có khả năng và có từ tâm thay vì thực dụng,
tức thời. Chưa cần phải thuyết pháp hay, những tăng ni này đã và đang làm công
việc hoằng pháp hữu hiệu một cách bất ngờ. Sự ảnh hưởng của Phật giáo trong lễ
tang như thế không đáng quý sao!
Hoằng pháp ở những vùng đất mới từ kinh nghiệm tiền nhân
Hầu như ai cũng biết đạo Phật có nguồn gốc từ Ấn Độ và từ
quê hương ấy, đạo Phật dần dần được giới thiệu đến các nơi khác. Những nơi đạo
Phật đặt chân đến lần đầu tiên, ít nhất theo đạo Phật, là những vùng đất mới. Và
Việt Nam là một trong những số đó.
Trước hết, vùng đất mới có thể được hiểu theo hai cách.
Đó là nơi xa xôi, hẻo lánh, nơi mới thành lập và ít người biết đến. Nó cũng có
thể được hiểu là nơi ta chưa từng đặt chân tới hay chưa từng biết đến cho dù nó
ở xa hay gần quanh ta. Trong trường hợp này, vùng đất mới là nơi Phật giáo chưa
từng được giới thiệu đến và người dân chưa từng biết đến đạo Phật, hay cụ thể
hơn là các tông phái Phật giáo.
Tựa đề ‘Hoằng pháp ở những vùng đất mới’ gợi cho bạn đọc
nghĩ về những cơ hội và thách thức mà những nhà truyền đạo, hay hoằng pháp viên
theo ngôn ngữ Phật giáo Việt Nam, phải dự tính để tận dụng và đương đầu để giải
quyết. Bài viết này không đi vào nội dung cơ hội và thách thức mà trình bày kinh
nghiệm hoằng pháp của chư vị tiền nhân và sự nghiệp hoằng pháp hiện tại. Qua đó,
chúng ta có thể đối chiếu để rút ra những bài học và bổ sung vào những chỗ khiếm
khuyết để xây dựng một chương trình hoằng pháp thích hợp và khả thi cho thời đại
hiện nay. Có lẽ, đó cũng là điều đáng nên làm cho Phật giáo.
Theo sử liệu Phật giáo, đạo Phật đã có mặt tại Việt Nam
trên dưới 2000 năm. Do đó, trong phạm vi nhỏ này, người viết chỉ sẽ đề cập kinh
nghiệm hoằng pháp của tiền nhân trong hai giai đoạn: giai đoạn Phật giáo được
giới thiệu vào Việt Nam và giai đoạn thế kỷ 17. Mỗi giai đoạn chỉ đề cập những
điểm trọng yếu có liên hệ và ảnh hưởng đến hoằng pháp hiện tại.
Giai đoạn Phật giáo
được giới thiệu vào Việt Nam
Trong quyển ‘Việt Nam Phật Giáo Sử Luận’, Giáo sư Nguyễn
Lang cho rằng Phật giáo được giới thiệu lần đầu tiên ở Việt Nam là do các thương
buôn người Ấn và sau đó mới có các Tăng sĩ Ấn Độ. Giả thuyết này có tính khả thi
vì lúc ấy các Tăng sĩ vô sản không thể tự sắm thuyền đi truyền đạo mà chỉ có thể
theo các thương buôn – những người đến Việt Nam chỉ vì mục đích buôn bán. Từ đó,
có hai giả thuyết đặt ra về sự có mặt của các Tăng sĩ Ấn là họ được các thương
buôn mời đi theo đoàn để cầu nguyện cho chuyến đi bình yên;[1]hoặc
họ tháp tùng đi theo vừa để cầu nguyện cho đoàn, vừa nhân cơ hội này để truyền
bá chánh pháp. Dù là động cơ nào thì sự có mặt của họ tại Việt Nam vào những thế
kỷ trước sau Tây Lịch là sự thật.
Cũng theo sử liệu này, các thương buôn người Ấn Độ là
những cư sĩ có thực hành Phật giáo đại thừa. Họ tổ chức sinh hoạt tín ngưỡng
Phật giáo bao gồm thờ cúng Phật Nhiên Đăng và Bồ tát Quán Thế Âm để che chở an
lành ngoài biển khơi, giữ gìn tam quy và năm giới, bố thí cúng dường….[2] Thời
ấy, việc đi lại phải nhờ vào gió mùa nên có khi đi về phải mất cả năm trời.
Trong thời gian ở lại Việt Nam để buôn bán và chờ đợi, họ có sự trao đổi với
người bản xứ và do đó, sinh hoạt của họ dần dần ảnh hưởng đến người Việt. Phật
giáo chưa được thuyết giảng bằng lời qua các nhà truyền đạo đã có những bước đầu
nảy nở, cho dù mang hình thức tín ngưỡng.
Khi các Tăng sĩ Ấn đến Việt Nam, họ lập am cư ngụ để cầu
nguyện cũng như hướng dẫn các thương buôn tu tập và dần dần các người bản xứ tìm
đến. Hẳn nhiên, các Tăng sĩ phải học ngôn ngữ Việt để hướng dẫn người Việt. Câu
hỏi đặt ra là tại sao họ theo đạo Phật trong khi họ cũng có tín ngưỡng riêng?
Những giải thích có thể chấp nhận được như sau. Thứ nhất, Phật giáo tín ngưỡng
có sự tương đồng và về nhiều mặt nổi trội hơn tín ngưỡng bản
địa. Ví dụ, đức Phật được xem
như là một vị có phép thần thông hiểu rõ lòng người, có tình thương rộng lớn
luôn cứu giúp người hiền, không phạt kẻ ác như ông Trời của họ. Thứ hai, những
quan niệm về nhân quả thiện ác, luân hồi, từ bi rất hợp với niềm tin và mong
muốn của người Việt lúc ấy.[3] Thứ
ba và quan trọng nhất là các Tăng sĩ và thương buôn đã đem đến người bản xứ
những thứ họ cần.
Từ trường hợp này, chúng ta có thể rút ra ba điểm như
sau: sự quan trọng của những người tiền trạm, sự chuẩn bị cơ bản của một người
truyền đạo và sự dấn thân của một Tăng sĩ hoằng pháp. Điểm thứ nhất, chính các
thương buôn là những người tạo điều kiện thuận lợi (về đời sống và môi trường)
cho Tăng sĩ. Thứ hai là việc sử dụng ngôn ngữ và hiểu biết văn hóa Việt. Có lẽ
các Tăng sĩ Ấn lúc bấy giờ phải khổ công để học ngôn ngữ. Thứ ba là các Tăng sĩ
tự nguyện ở lại truyền đạo nơi vùng đất mới và họ đã sinh sống cùng với người
Việt trong một thời gian dài nhất định để cảm hóa người Việt theo Phật
giáo.
Giai đoạn thế kỷ
17
Suốt chiều dài lịch sử truyền đạo ở Việt Nam, Phật giáo
đã đón tiếp rất nhiều Tăng sĩ người Ấn cũng như người Hoa và nhiều người trong
số họ đã đóng góp rất to lớn cho sự hình thành và phát triển đạo Phật Việt Nam.
Những người có công giới thiệu và tạo nền tảng cho việc duy trì tông phái Phật
giáo vẫn còn ảnh hưởng mạnh hiện nay không thể không kể đến thiền sư Nguyên
Thiều Siêu Bạch và thiền sư Minh Hải Pháp Bảo. Cả hai đều là thiền sư người gốc
Hoa, thuộc dòng Lâm Tế.
Thiền sư Nguyên Thiều thuộc đời thứ 33 dòng Lâm Tế ở
Trung Hoa. Năm 1677, Ngài theo thuyền buôn đến phủ Quy Ninh (Quy Nhơn), Bình
Định cư trú. Đến năm 1683 tức 6 năm sau, Ngài lập xong chùa Di Đà Thập Tháp để
truyền bá Phật pháp. Sau đó, Ngài ra Thuận Hóa lập chùa Hà Trung, chùa Quốc Ân
và tháp Phổ Đồng. Ở đây, Ngài được chúa Nguyễn Phúc Thái kính trọng và thỉnh cầu
sang Trung Hoa để thỉnh mời các danh tăng, Phật tượng và pháp khí. Ngài tịch năm
1728, truyền bá Phật pháp tại Việt Nam được 51 năm.[4]Như
vậy, Ngài là người đầu tiên giới thiệu dòng thiền Lâm Tế ở Việt Nam. Ngài có rất
nhiều đệ tử nên dòng thiền này được duy trì và truyền
bá khắp các tỉnh Trung, Nam bộ cho đến ngày nay.
Thiền sư Minh Hải Pháp Bảo thuộc đời 34 dòng Lâm Tế. Năm
1695, Ngài qua Việt Nam cùng với phái đoàn tăng sĩ do thiền sư Thạch Liêm làm
trưởng đoàn theo lời thỉnh cầu của chúa Nguyễn. Sau khi Phật sự tổ chức giới đàn
ở Thuận Hóa xong, Ngài và một số đồng môn không về nước mà ở lại Việt Nam để
hoằng pháp. Năm 1696, thiền sư đã lập thảo am ở Hội An, sau này trở thành tổ
đình Chúc Thánh, để tu tập và truyền đạo. Sau 50 năm hoằng hóa chánh pháp tại
Việt Nam, Ngài tịch vào năm 1746. Ngài đã đào tạo một thế hệ đệ tử xuất sắc có
thể duy trì và phát triển thiền phái Chúc Thánh rộng khắp Việt Nam và hải ngoại
như hiện nay.[5]
Sự nghiệp truyền bá chánh pháp của hai vị thiền sư – tổ
sư để lại cho chúng ta nhiều bài học quý giá. Thứ nhất, sự truyền đạo của hai
Ngài ở Việt Nam (vùng đất mới đối với hai Ngài) là hoàn toàn từ tâm
nguyện độ sanh, bất vụ lợi. Thứ hai, cả hai Ngài đều xây dựng sự nghiệp bằng sự
dấn thân và tài đức do tu tập. Thứ ba, hai Ngài đào tạo thế hệ đệ tử xuất sắc
cho tương lai. Do đó, hai Ngài được giới lãnh đạo kính trọng và quần chúng
ngưỡng mộ quy tụ về tu học.
Hoằng pháp ngày
nay
Sự nghiệp hoằng pháp của Phật giáo Việt Nam hiện nay dựa
vào Tăng Ni và cư sĩ nói chung và Ban Hoằng pháp nói riêng. Vì Ban Hoằng pháp
được thành lập để chuyên trách về truyền bá chánh pháp nên bài viết chỉ tập
trung phân tích cơ cấu và sự hoạt động của ban này trong vai trò hoằng pháp ở
những vùng đất mới.
Theo quyết định chuẩn y nhân sự bổ sung Ban Hoằng pháp
Trung ương nhiệm kỳ (2007-2012), có tất cả 59 thành viên chính thức và 52 ủy
viên dự khuyết.[6]Danh
sách này cho thấy hầu hết các ủy viên chính thức và dự khuyết đều là những vị
trụ trì hoặc ít nhất có một phận sự khác. Như vậy, chúng ta có thể suy luận rằng
mục đích của Ban Hoằng pháp chỉ là giảng dạy giáo lý cho các đạo tràng đã có sẵn
và không thể thích hợp hoằng pháp ở vùng đất mới (vì chưa có đạo tràng để giảng
và các ủy viên khó lòng mà bỏ bổn tự để dấn thân lâu dài xây dựng đạo tràng vùng
đất mới), trừ trường hợp Ban Hoằng pháp có mối quan hệ với các nhà lãnh đạo địa
phương để có thể được mời thuyết giảng.
Để khắc phục, Ban Hoằng pháp nhiều năm qua đã nỗ lực đào
tạo hàng trăm giảng sư bậc cao và trung để bổ sung đội ngũ giảng sư nhưng cũng
chỉ nhằm mục đích thuyết pháp. Trong số những vị này, có nhiều vị chưa trụ trì
hay có chức vụ cố định nên đã dấn thân đến những vùng xa xôi và vùng đất mới để
hành đạo. Sự dấn thân của họ có thể quy vào hai trường hợp: hoặc có tâm nguyện
phục vụ cộng với sự thỉnh mời của tín đồ, hoặc tự thân đến những nơi xa xôi tìm
nơi hành đạo. Trường hợp thứ hai hiếm xảy ra vì điều kiện chủ quan lẫn khách
quan hiện tại không cho phép.
Về hoạt động, Ban Hoằng pháp chưa có một kế hoặch cụ thể
nào cho việc hoằng pháp ở vùng đất mới bao gồm nhân sự, mục đích, phương pháp,
v.v... Sự hoạt động của Ban Hoằng pháp hiện tại là hầu như dựa trên tinh thần tự
nguyện cá nhân nhằm duy trì và tăng thêm tín đồ ở những nơi Phật giáo đã từng
tồn tại hơn là mở rộng và thu nhận tín đồ ở những vùng đất mới. Tóm lại, sự
nghiệp hoằng pháp ở những vùng đất mới còn bỏ ngõ.
Những kinh nghiệm tiền
nhân và đề xuất
Qua sự trình bày trên, một số kinh nghiệm có thể được rút
ra khi hoằng pháp ở những vùng đất mới. Thứ nhất, phải tìm hiểu ngôn ngữ, văn
hóa và nhu cầu của người địa phương trước khi tiếp cận, và khi tiếp cận phải tạo
cho họ có thiện cảm với Phật giáo (như trường hợp 1). Thứ hai, để gieo trồng
những hạt mầm mới thì nhà hoằng pháp phải có kiến thức cần thiết, có trải nghiệm
tu tập nhất định, và phải dấn thân sinh hoạt với người bản địa theo kiểu “mưa
dầm thấm đất” (như cả hai trường hợp ở trên). Thứ ba, sự đóng góp quan trọng của
cư sĩ trong việc phổ biến đạo Phật (trường hợp 1), sự trợ giúp cần thiết của
chính quyền địa phương (trường hợp 2), và nhất là của giáo hội Phật giáo trong
thời hiện tại.
Để đáp ứng điều kiện trên, Ban Hoằng pháp nên cơ cấu nhân
sự theo mô hình 2 thành phần: thành phần chính gồm những vị có chức vụ, đang trụ
trì các chùa và đang tham gia thuyết giảng; và thành phần cơ hữu có thể bổ nhiệm
đi hoằng pháp khắp nơi gồm những vị tốt nghiệp các lớp giảng sư và những vị có
khả năng thuyết giảng bao gồm cư sĩ với điều kiện tất cả phải cam kết theo quy
định Ban Hoằng pháp. Theo đó, thành phần chính ngoài phận sự thuyết giảng phải
xây dựng chương trình hoằng pháp, đào tạo nhân sự, lập quỹ tài trợ hoằng pháp,
và đặc biệt xây dựng chính sách cho các thành viên. Thành phần cơ hữu có trách
nhiệm theo sự phân công của ban: hoặc tham gia hoằng pháp ngắn hạn theo đoàn,
hoặc dấn thân hoằng pháp ở một nơi xa nào đó theo nhiệm kỳ hay trọn đời. Những
vị này phải được hỗ trợ nhất định và nếu không ở trọn đời nơi đó thì khi hoàn
tất nhiệm kỳ phải được những quyền lợi ưu tiên cụ thể như bổ nhiệm trụ trì, tham
gia công tác, v.v…
Một chương trình như thế xem ra khó thực hiện ngay hiện
nay. Tuy nhiên, nếu không sớm thực hiện thì dù đạo Phật được cho là vàng, kim
cương nhưng khó tiếp cận thì cũng không bằng đồng, chì, kẽm…được cung cấp khuyến
mãi có thể sử dụng ngay. Thiết nghĩ, những người con Phật có tâm hoằng pháp
không thể không suy ngẫm.
[1] Nguyễn
Lang. Việt Nam Phật Giáo Sử
Luận. Nhà xuất bản văn học Hà Nội, 2000, trang 26.
[2] Sđd,
tr.44.
[3] Sđd,
tr.47-50.
[4] Sđd,
tr.586-9. Nguyễn Tài Thư. The History of
Buddhism in Vietnam. USA: The Council for Research in Values and Philosophy,
2008, tr. 198.
[5] http://www.lamtechucthanh.com.vn/index.php?cmd=act:tieusu
[6] http://www.banhoangphaptw.com/index.php/thoi-su/thong-bao/498--quyt-nh-chun-y-thanh-phn-nhan-s-b-sung-ban-hptw



22:09
oneillhekhih6165