Thứ Tư, 11 tháng 1, 2012

Tâm Thư Thiền sư Thích Nhất Hạnh gửi Phụ huynh con em Phật tử


Kính gửi phụ huynh các đoàn sinh Gia Ðình Phật Tử
Kính thưa quý vị
Gia Ðình Phật Tử là một tổ chức nuôi dưỡng và giáo dục thanh thiếu niên theo tinh thần và đường hướng Phật Giáo. Các huynh trưởng của GÐPT đã được huấn luyện và đào tạo để hướng dẫn các đoàn sinh sống theo nếp sống hiếu thuận, từ hòa, hiểu biết và thương yêu của truyền thống đạo Phật.
Học đường và xã hội ngày nay có quá nhiều chất liệu cám dỗ, bạo động, căm thù, nghi kỵ và thèm khát. Các bậc phụ huynh vì lo sợ con em bị nhiễm độc bởi những chất liệu ấy đã thao thức muốn con em mình được nương tựa vào một nếp sống tâm linh để được bảo vệ và nuôi dưỡng bằng những chất liệu lành mạnh của nền đạo lý dân tộc, nên đã muốn gửi con em vào GÐPT. Các huynh trưởng của GÐPT tuy đạo hạnh và tài năng chưa hoàn hảo nhưng ai cũng đang được huấn luyện và tu học liên tục để càng ngày càng có khả năng bảo vệ trị liệu và nuôi dưỡng đoàn sinh của mình. Huynh trưởng GÐPT cố tâm thực tập cho bản thân và cho gia đình mình, bồi đắp chất liệu hòa thuận, tin yêu và hạnh phúc trong gia đình mình trong khi dạy dỗ và hướng dẫn các em tại đoàn quán để rồi các em cũng học được những phương thức ấy mà làm tăng tiến chất liệu hòa thuận, tin yêu và hạnh phúc trong gia đình các em.
Quý vị Phụ huynh nào đã gửi con em cho tổ chức GÐPT thì xin yễm trợ cho đoàn và cho con em mình trong việc áp dụng những phép thực tập ấy trong gia đình mình. Nếu phụ huynh thực tập năm giới vững vàng, cố gắng dành thì giờ để tham dự vào những buổi sinh hoạt tụng giới và những ngày quán niệm do GÐPT tổ chức và cộng tác với các em trong việc tổ chức tu học tại nhà, thì đó là một yểm trợ rất lớn cho GÐPT, và có thế thì các huynh trưởng của GÐPT mới làm tròn được bổn phận nuôi dưỡng và bảo vệ các em trong môi trường rất xấu của xã hội hiện tại.
Các huynh trưởng của GÐPT mong mỏi quý vị phụ huynh cùng đi với các em trên con đường tu học, bởi vì nếu không có quý vị tán đồng và yểm trợ thì chúng tôi không thể làm tròn được sứ mạng mà quý vị giao phó.
Mỗi đoàn sinh có thể có những khổ đau và khó khăn tại học đường, trong gia đình và ngoài xã hội. Chúng tôi mong được cộng tác với quý phụ huynh để nhận diện được những khổ đau và khó khăn ấy của các em mà tìm ra những biện pháp hữu hiệu để giúp đỡ và gỡ rối cho các em.
GÐPT rất cần đến sự lưu tâm và yểm trợ của liệt vị.


Thích Nhất Hạnh

Thứ Ba, 10 tháng 1, 2012

Hiểu về hai chữ ‘vãng sanh’


Sanh tử là vấn đề ai cũng phải trải qua nhưng không phải ai cũng có thể hiểu rõ bản chất của nó. Đứng trên quan điểm nhị nguyên, sanh tử được cho là hai thái cực trái ngược nhau và do đó nhân loại luôn tìm cách kéo dài sự sống mà lý tưởng của nó là trường sanh bất tử. Dù có nỗ lực vượt bậc, con người cũng không thể đạt được mục tiêu ấy vì lý do đơn giản, đó là quy luật của tạo hóa. Trong khi chấp nhận sự thật sanh tử, con người lại tiếp tục tìm cách lý giải hiện tượng sau khi chết với hai thái cực trái ngược nhau là không còn gì tồn tại sau khi chết (đoạn kiến) và vẫn còn sự tồn tại sau khi chết. Ở thái độ thứ hai, lại có nhiều quan điểm khác nhau. Có thuyết cho rằng linh hồn (tâm) tồn tại bất biến hay bất diệt[1] (thường kiến), có thuyết cho rằng sau khi chết linh hồn tội lỗi phải chờ đợi đến ngày phán quyết cuối cùng để hoặc lên thiêng đàng hay đọa địa ngục do Chúa quyết định (Cơ đốc giáo, Hồi giáo…).[2] Phật giáo cũng khẳng định sau khi chết con người không mất hẳn mà tiếp tục luân hồi theo nghiệp đã tạo, trừ các bậc thánh. Thần thức, bardo hay gọi cho dễ hiểu là linh hồn vô ngã[3] tiếp tục tồn tại ở các cõi hay cảnh giới phù hợp với nghiệp thức của người ấy.
Do nhận thức theo quan điểm nhị nguyên nên việc quan tâm đến sự tồn tại sau khi chết là hoàn toàn dễ hiểu. Theo trường phái Tịnh độ, mục đích của người tu Tịnh độ là cầu vãng sanh về thế giới Cực Lạc. Tuy nhiên, kinh điển đại thừa thường mang tính ẩn dụ thay vì nói thẳng chữ đâu nghĩa đó. Do đó, hiểu đúng về giáo lý đại thừa là một thách đố lớn với hành giả Phật giáo nói riêng và những người tín ngưỡng Phật giáo nói chung. Bài viết này đưa ra một cách hiểu về ‘vãng sanh’ dựa trên cơ sở giáo lý cốt tủy của đạo Phật nhằm mục đích cung cấp cho những hành giả tu tập Phật giáo tín ngưỡng, cụ thể là pháp môn Tịnh độ có thêm một ý kiến tham khảo và hy vọng rằng nó giúp hành giả tu Tịnh độ có niềm tin vững hơn và thực tế hơn trong cuộc sống hiện thực này. Bài viết sẽ trình bày bốn điểm như sau:
Quan niệm về thế giới Cực Lạc
Khi tìm hiểu Phật giáo, người học Phật nên phân biệt hai nguồn giáo lý để hiểu đúng lời Phật dạy và phương tiện của chư tổ. Trong khi nguồn giáo lý nguyên thủy thường rất rõ ràng, cụ thể thì nguồn giáo lý đại thừa thường được trình bày thông qua biểu tượng, ẩn dụ. Do đó, người học Phật giáo đại thừa dễ mắc sai lầm khi hiểu giáo pháp theo ‘nghĩa đen’ – chữ đâu nghĩa đó thay vì dựa trên cơ sở pháp ấn của Phật giáo.[4] Rõ ràng, không ai phủ nhận giáo lý Tịnh độ thuộc hệ đại thừa và mang giá trị biểu tượng hơn là cụ thể. Kinh A Di Đà miêu tả cảnh giới Cực Lạc ở phương Tây cách xa hơn ‘mười muôn ức cõi Phật’. Nếu hiểu theo ‘nghĩa đen’ thì Cực Lạc là một cõi vật chất tồn tại ở phương Tây, cách rất xa thế giới Ta bà. Nếu là cõi vật chất (dù là báu) có sự sống tồn tại khách quan thì dù xa vẫn có thể đến được bằng chính thân ngũ uẩn mà không cần đợi chết. Bằng chứng là khoa học đang chinh phục và thậm chí còn đến được các hành tinh không có sự sống.
Hơn nữa, nếu cho rằng Cực Lạc là cõi vật chất do Đức Phật A Di Đà sáng tạo và sở hữu thì sẽ có những phản biện. Thứ nhất, Đức Phật Thích Ca không dạy rằng các đức Phật có thể sáng tạo ra thế giới như chính bản thân Ngài sinh ra cõi đời này nhưng không hề sáng tạo ra thế giới Ta bà. Thứ hai, cho rằng Phật A Di Đà sáng tạo ra thế giới Cực Lạc thì chẳng khác nào chúng ta chấp nhận thuyết Chúa sáng tạo ra Thiên Đường và tất cả những thứ khác bao gồm con người và thế giới chúng ta đang sống. Nếu chỉ kể Cực Lạc và Thiên Đường thôi thì Phật giáo và Cơ đốc giáo có gì khác nhau, vì cả hai đều chấp nhận đấng sáng tạo. Thứ ba, một cõi vật chất sanh mà không diệt là không thể tồn tại vì trái với pháp ấn vô thường, vô ngã của đạo Phật.
Dựa vào các ý trên, người học Phật nên nhìn lại để quán chiếu và hiểu lời Phật dạy theo hướng biểu tượng. Thể tánh của đức Phật A Di Đà là vô lượng thọ, vô lượng quang, là Phật Pháp thân. Giáo lý đại thừa đều chấp nhận rằng Pháp thân bao trùm tất cả thế giới. Thế giới Cực Lạc hiểu theo nghĩa Pháp thân Phật thì đó là cảnh giới thanh tịnh, thuộc về tâm. Từ thể tánh thanh tịnh của Phật A Di Đà biểu hiện ra cảnh giới Cực Lạc (Tịnh độ) là hoàn toàn phù hợp với những lời dạy sau:
‘Tự tánh Di Đà, duy tâm Tịnh độ’;
‘Tam nghiệp hằng thanh tịnh, đồng Phật vãng Tây phương’ (Tỳ ni Nhật dụng);
Tịnh độ là lòng trong sạch, chớ còn ngờ hỏi đến Tây phương, Di Đà là tính sáng soi, mựa phải nhọc tìm về Cực Lạc.’ (Lời của Phật Hoàng Trần Nhân Tông)[5]
Chớ bảo cõi Tây phương là gần, hành trình về Tây phương xa xôi đến mười vạn dặm đường. Đức Phật A Di Đà thương mà tiếp dẫn mới giải thoát khỏi tử sanh.’[6]
‘Chớ bảo cõi Tây phương xa xôi, cõi Tây phương ở ngay trước mặt. Như nước chảy về biển cả, như trăng lặn không ra khỏi bầu trời.’[7]
Thế giới Cực Lạc rất xa nhưng cũng rất gần và mọi người đều có thể tiếp xúc được khi tam nghiệp hằng thanh tịnh, tức không còn phiền não, là Phật tánh, là Niết bàn, là hạnh phúc chân thật. Khi tâm của chúng ta thanh tịnh thì đồng tâm Phật (Phật tánh) thì Phật, Bồ tát đang chờ mời chúng ta vào thế giới Cực Lạc để cùng thể nghiệm sự giải thoát. Như thế, hạnh nguyện độ sanh của Phật và Bồ tát thường hằng và thật công tâm. Chỉ e rằng chúng sanh không tạo đủ ‘độ cảm’ nên không ‘ứng hợp’ với chư Phật và do đó, cầu thì vẫn cứ cầu mà ứng thì khó đạt được.
Cầu vãng sanh và cái chết
Nếu ta hiểu Cực Lạc không phải là cõi vật lý mà là cảnh của tâm thì vấn đề tiếp theo là cầu vãng sanh như thế nào? Cầu vãng sanh phải chăng là cầu chết?
Xưa nay nói đến vãng sanh thì ai cũng hiểu là chết và về thế giới Cực Lạc. Do hiểu như thế nên người tu Tịnh độ rất muốn được vãng sanh để về cõi không còn khổ đau như cõi Ta bà. Cầu vãng sanh như thế đồng nghĩa với cầu chết và chết để được về cõi tịnh hết khổ đau thì có vẻ như ai cũng thích. Thế nhưng, sự thật có ai dám vứt bỏ mạng sống quý giá này để về Cực Lạc ngay không? Chắc chắn là không có, thậm chí còn muốn sống lâu thêm dù luôn rên đau khổ. Đó là sự mâu thuẩn khi ta hiểu vãng sanh đồng nghĩa với chết.
Hơn nữa, nếu có ai hỏi rằng pháp hữu về Cực Lạc để làm gì thì dường như ai cũng đồng thanh đáp rằng về Cực Lạc để tu thành Phật rồi trở lại Ta bà hóa độ chúng sanh. Lời đáp ấy có vẻ rất cao thượng mang tinh thần Bồ tát nhưng sự thật thì chính mỗi người tự biết rõ. Có hai ý xin trình bày để quý vị xem mà đánh giá sự thật của câu trả lời trên.
Thứ nhất, các vị tu Tịnh độ thường có ý niệm chán ghét Ta bà, cầu sanh về Cực Lạc với mục đích để chạy trốn khổ đau nơi Ta bà, mong được hưởng thụ sự an lạc sẵn có nơi Tịnh độ. Trong kinh Nam truyền (Pali) Phật dạy pháp quán ‘yểm ly’ với mục đích là để khuyến khích hành giả không tham đắm, chấp trước mà dễ chuyên tâm tu tập phụng sự, cống hiến; không hiểu từ đâu mà hành giả Tịnh độ lại hiểu chán ghét là chạy trốn. Vả lại, ở Ta bà – một thế giới có khổ có vui mà hành giả còn chưa phấn đấu tinh tấn tu tập đúng mức thì lấy gì bảo đảm là quý vị sẽ tu tập ở một nơi hoàn toàn sung sướng. Quan điểm này hoàn toàn trái ngược với lời dạy của đức Phật Thích Ca và chính tự thân Ngài chứng minh lời dạy ấy. Đó là chỉ có cõi Ta bà này là nơi phù hợp nhất để tu hành chứng nghiệm giác ngộ, giải thoát.
Thứ hai, hiện tại chúng ta không tu cho bản thân mình và giúp những người thân xung quanh trong khi ta có đủ điều kiện thì liệu ai tin rằng ta sẽ trở lại Ta bà mà độ sanh. Một lời hứa hẹn không có cơ sở thực tế. Hơn nữa, không có đức Phật, Bồ tát nào phát nguyện tu tập tại cõi hạnh phúc (Cực Lạc) để được chứng ngộ rồi sau đó đến cõi khổ đau độ sanh cả. Từ Đức Phật lịch sử Thích Ca Mâu Ni cho đến Đức Phật A Di Đà, Bồ tát Quan Thế Âm, Bồ tát Địa Tạng, v.v…. Vậy thì, hành giả Tịnh độ mong về Cực Lạc tu pháp môn gì, thực hành phước báo gì để thành Phật và pháp môn ấy có phù hợp với hạnh nguyện của Phật A Di Đà và chư Bồ tát đã và đang thực hiện không?!
Liên hệ đến Niết bàn, nhiều người cũng quan niệm sai lầm khi cho rằng Niết bàn là chết, hay Niết bàn hữu dư và vô dư. Quan niệm Niết bàn là chết làm cho Phật giáo trở nên yểm thế. Sự thật, đức Phật và các vị A-la-hán chứng Niết bàn ngay khi còn sống và giáo hóa chúng sanh ngay trên cõi đời này, và Niết bàn là Niết bàn chứ không có hữu dư hay vô dư vì không thể đồng nhất sự tồn tại xác thân với Niết bàn. Có gì khác nhau giữa Niết bàn khi còn xác thân và khi xác thân tan rã!? Vấn đề chỉ là do chính chúng ta chủ quan dựa trên hiện tượng mà phân biệt thôi.
Để giải quyết vấn đề này thì không có gì hay hơn là hiểu đúng ý nghĩa vãng sanh. Chư vị tổ sư, các bậc tôn túc đã chỉ dạy vãng sanh là vượt qua phiền não. Khi vượt thoát hoàn toàn phiền não tức là vãng sanh hoàn toàn, là Niết bàn, là Tịnh độ. Và do đó, cầu vãng sanh là cầu giải thoát, Niết bàn chứ không phải chỉ là cầu về Tây phương sau khi chết. Vãng sanh đồng nghĩa với chết là phương tiện, là niềm tin còn vãng sanh là thoát khỏi phiền não mới đích thực là giáo pháp của đức Phật. Cầu vãng sanh như thế thì vãng sanh càng nhanh càng tốt và chắc chắn không ai từ chối cả.
Sự ngộ nhận vãng sanh như là một ‘ca vãng sanh’
Đã hiểu vãng sanh như là sự chấm dứt phiền não thì vấn đề hộ niệm sẽ được hiểu đúng và không bị rơi vào tình trạng ngộ nhận ‘vãng sanh như một ca’. Nhiều nhóm cư sĩ làm công việc hộ niệm cho người chết, sau khi đám tang xong thì cho rằng đã hoàn thành một ca vãng sanh. Những người hộ niệm phiền não còn quá đủ, người chết phiền não cũng còn dư. Vậy mà những tuyên bố như thế cũng làm bao nhiêu người mê và ca ngợi không ngớt. Ngay cả đức Phật khi được hỏi về trường hợp sau khi chết của các đệ tử, Ngài cũng chỉ trả lời là tái sanh về cõi lành. Đành rằng quý vị hộ niệm có ý mong muốn tốt nhưng khi tuyên bố một việc không có thật hay do mình ảo tưởng, nhất là những việc có ảnh hưởng đến sự thăng trầm của kiếp người thì thiết nghĩ quý vị rất nên thận trọng. Đừng vì đam mê một chút tiếng tăm mà ta bị tổn phước báo khi gây hoang mang và tạo sự ỷ lại cho nhiều người chưa hiểu đạo Phật. Ấy là chưa kể những việc làm mâu thuẩn khác như là đọc tên cầu siêu….. Đã tuyên bố vãng sanh rồi thì phải mừng chứ sao lại còn khóc, còn đọc tên cầu siêu mà không thay bằng sự tưởng niệm mang tính tri ân giáo dục và vui mừng. Xin quý vị suy ngẫm lại xem để tránh tự lừa chính mình.
Khi đã hiểu ý nghĩa và điều kiện vãng sanh thì những người làm công việc hộ niệm không còn ngộ nhận ‘có hại’ như trên và gia quyến người chết cũng không bị ‘ảo tưởng’. Hộ niệm là một việc làm đáng khích lệ vì đó là hành động trợ duyên tích cực cho cả người chết và gia đình thân quyến của họ. Nó như là một sự nhắc nhở tích cực để người mất tỉnh thức quay về đường thiện, tái sanh cõi lành. Chư Phật, Bồ tát luôn cứu độ, tiếp dẫn bằng con đường hướng đạo với vai trò là bậc đạo sư như chính đức Phật Thích Ca vậy. Việc hiểu lầm vãng sanh là do hộ niệm dẫn đến thái độ ỷ lại và mong mỏi rằng khi chết có nhiều thầy cô, ban hộ niệm đến tụng kinh mới được vãng sanh cần phải xem lại. Đáng tiếc, nhiều người xuất gia cũng có tư tưởng như thế huống gì những người tín ngưỡng. Tất cả chỉ vì sự lạm dụng hai chữ ‘phương tiện’ trong khi truyền bá Phật pháp.
Tu tịnh độ theo tinh thần nhân quả
Giáo lý nhân quả là một tuyệt phẩm của đạo Phật do đức Phật giác ngộ và truyền dạy lại. Nhân quả là chân lý dù con người có tin hay không tin, có chấp nhận hay không chấp nhận. Hành giả muốn tin thế giới Cực Lạc là cõi vật chất ở Tây phương hay là cảnh của tâm bao trùm tam thiên thế giới điều đó không trở ngại gì đến sự vãng sanh. Quan trọng là chúng ta phải dứt sạch phiền não. Đó chính là chánh nhân để vãng sanh ngay hiện tại và cảnh giới Tây phương.
Muốn đạt được chánh nhân ấy, tâm hành giả phải luôn thanh tịnh (nhất tâm bất loạn) hay chánh niệm tỉnh thức. Tâm ấy chỉ có thể đạt được khi miệng nói lời chánh ngữ hay luôn niệm Phật và thân phải tu thiện, tạo phước, cứu giúp mọi người và muôn loài. Thành tựu được tâm bất loạn hay chánh niệm tỉnh thức và đầy đủ phước đức thì hành giả đã thành tựu vãnh sanh. Khi ấy, hành giả nguyện sanh về Cực Lạc hay bất cứ nơi đâu cũng không có gì trở ngại.
Từ bi và cứu khổ là bổn nguyện của tất cả chư Phật. Tuy nhiên, ba đời chư Phật chưa vị Phật nào phủ định nhân quả hay thay đổi nhân quả bằng năng lực thần thông. Nghĩa là Phật không bao giờ ‘đặc cách’ cho bất cứ một chúng sanh nào để cứu độ khi mà họ chưa dứt sạch nghiệp vì làm như thế là phủ định nhân quả hay ‘đạp lên’ nhân quả. Do đó, chúng ta không cần quá bận tâm việc Phật cứu độ theo nghĩa ‘nghĩa đen’ nữa mà nên dành trọn thời gian để tạo chánh nhân theo lời Phật dạy tức là dứt sạch hoàn toàn phiền não, đạt tâm bất loạn (chánh niệm) và đầy đủ phước đức thì khi ấy không phải Phật đang cứu độ ấy sao!
Tịnh độ là một pháp môn có nhiều tranh luận vì có nhiều sự lý giải khác nhau. Do đó, thay vì phủ bác lẫn nhau thì chúng ta hãy tiếp nhận sự kiến giải khác nhau từ đa chiều rồi tư duy quán chiếu theo tinh thần Phật dạy trong kinh Kalama. Từ đó, mỗi người sẽ tìm thấy cho mình hướng đi đúng, phù hợp với giáo lý cốt yếu của Phật giáo.
Hãy thận trọng khi tuyên bố những gì mình chưa chứng nghiệm, nhất là những tuyên bố chỉ dựa vào niềm tin kinh điển mà không phải dựa trên nhân quả và pháp ấn của đạo Phật. Hậu quả của nó khó mà lường hết được!
Hành giả Tịnh độ vẫn được khuyến tấn tin Phật A Di Đà cứu độ và thế giới Cực Lạc để tu tập tinh tấn hơn. Tuy nhiên, tu tập là một quá trình chuyển hóa thân tâm. Niềm tin và cầu nguyện là chất xúc tác để hành giả thực hành tinh chuyên hơn. Nhờ chất xúc tác mà hành giả niệm Phật đạt đến nhất tâm bất loạn thì vãng sanh có mặt hiện tiền. Có thể các bạn không đồng ý nhưng đó là điều các bạn có thể trải nghiệm được ngay bây giờ và tại thế giới này. Các bạn có quyền nghĩ về tương lai ở Cực Lạc nhưng lời khuyên chân thành là đừng đánh mất giá trị cuộc sống hiện tại hay hiểu một cách khác là đừng đánh mất ‘Tịnh độ hiện tiền.’

Hư Thật Mộng



[1] Thuyết này chủ trương thế giới và tự ngã thường còn. Bà-Phù-Đà-Ca-Chiên-Diên (Pakudha-Katyayana) – một trong sáu vị thầy ngoại đạo thời đức Phật, chủ trương thuyết này. Ông cho rằng tâm vật nhị nguyên bất diệt.
[2] Xem http://en.wikipedia.org/wiki/Last_Judgment
[3] Năm uẩn của con người gồm sắc thân cộng với phần tâm gồm cảm thọ, tri giác, suy nghĩ và nhận thức đều vô ngã. Dù gọi thần thức hay linh hồn thì thần thức hay linh hồn đó phải là vô ngã.
[4] Pháp ấn gồm Vô thường, Khổ, Vô ngã, Niết bàn hay Vô thường, Khổ, Vô ngã (theo Nam truyền).

[5]Xem thêm bài viết ‘Tịnh độ là lòng trong sạch, Di Đà là tính sáng soi’ của TT. Thích Phước Đạt (http://giacngo.vn/triethoc/2011/11/30/5FF001/)

[6] ‘Mạc đạo Tây phương cận, Tây phương thập vạn trình, Di Đà thùy tiếp dẫn, vô tử diệc vô sanh’
[7] ‘Mạc đạo Tây phương viễn, Tây phương tại mục tiền, thủy lưu quy đại hải, nguyệt lạc bất ly thiên.’ Xem thêm bài ‘Ý nghĩa vãng sanh’ của TT Thích Viên Giác (http://www.giacngo.vn/phathoc/luockhao/2010/12/28/7AE219/)

Thứ Hai, 9 tháng 1, 2012

Cùng đón tân Xuân lành mạnh


Như một quy luật, khi mùa xuân đến khí trời trở nên mát dịu, muôn loại cỏ cây xanh tươi đâm chồi nảy lộc, trăm hoa cùng nghiêng mình khoe sắc thắm. Con người, hòa theo quy luật tạo hóa cộng với văn hóa truyền thống tổ tiên, cũng hân hoan đón mừng mùa xuân mới bằng những sinh hoạt lễ hội vui chơi. Năm cũ đi qua, năm mới tiếp nối. Trong thâm tâm, mỗi người đều mong muốn những điều lạc hậu, xấu ác qua mau và hy vọng đón mừng những niềm an vui, hạnh phúc. Các lễ hội diễn ra muôn màu muôn vẻ nhưng tựu trung không ngoài mục đích thể hiện lòng biết ơn thông qua truyền thông tổ tiên – con cháu; củng cố và làm mới tình người qua các lễ nghĩa bà con làng xóm, bạn bè; và xa hơn là sự mong mỏi cuộc sống bình an, thịnh vượng thông qua hình thức tạo phước, cầu an. Lễ hội truyền thống như thế tự nó đã nói lên giá trị thiết thực và cần được duy trì phát huy trong cuộc sống. Mùa xuân đang đến, lễ Tết cũng cận kề. Chúng ta hãy cùng nhau phát huy giá trị truyền thống của nó và đón một mùa xuân an vui, lành mạnh.
Kết nối tình thân
Không cần phải nói, người việt Nam ai cũng công nhận rằng Tết là lễ truyền thống lớn nhất của dân tộc. Hằng năm, cứ đến tháng chạp mọi người không ai bảo ai tự khắc tất bật chuẩn bị đón xuân, đón Tết. Mỗi gia đình dù nghèo hay giàu vẫn phải có hoa, hương, trà, nước và ít bánh trái để trước dâng cúng tổ tiên, thần linh thổ địa, sau là để con cháu hưởng lộc. Những người xa xứ, trong điều kiện cho phép, đều muốn thu xếp công việc để về đoàn tụ gia đình, thăm quê hương, xứ sở. Có lẽ, được vây quần bên nhau trong không khí gia đình chuẩn bị ngày Tết chắc là hạnh phúc lắm. Vào ngày cuối cùng của năm, đại diện gia đình kính cẩn dâng hương mời tổ tiên về để cùng vui với con cháu trong ba ngày Tết. Dù tổ tiên ở ‘xa’ và dù con cháu mỗi người mỗi xứ, ngày Tết đến đều được mời hướng về mái ấm gia đình, họ tộc để kết nối tình thân huyết thống. Do đó, mỗi gia đình nên tổ chức bữa cơm tất niên để cho các thành viên, dù may mắn quay về đoàn tụ hay vẫn phải ở phương xa, đều có cơ hội kết nối với nhau qua truyền thông liên lạc hay trực cảm nội tâm. Bữa cơm ấy sẽ có ý nghĩa lớn hơn nhiều so với những hình thức tiệc tùng linh đình, phô trương tốn kém nhưng chỉ để phục vụ bản năng.
Giữ gìn truyền thống
Trong giờ phút giao thời linh thiêng được báo hiệu bởi âm thanh vang vọng của tiếng pháo, tiếng chuông, tiếng trống…mọi người dường như dừng lại các ý niệm lăng xăng để hướng về thời khắc của năm mới với những ước nguyện bình an, hạnh phúc. Những người có đạo thì đi chùa, nhà thờ…để lễ bái cầu nguyện, còn những người không theo đạo nào cụ thể thì thường lễ tổ tiên chúc tụng trong gia đình. Ta cảm nhận rằng, ước nguyện bình an, hạnh phúc là đặc điểm chung của đa số người Việt, nó thể hiện tinh thần yêu chuộng hòa bình, thương yêu sự sống. Trong những ngày Tết, theo tục lệ là dành cho cha, mẹ, thầy hay nói rộng ra là dành cho những bậc sanh thành, giáo dưỡng, truyền thụ kiến thức hữu ích cho ta nên người hữu dụng; là dành cho bà con thân thích, cô bác xóm giềng, bạn bè thân quen…. Tinh thần hiếu thuận, tri ân, uống nước nhớ nguồn, tình làng nghĩa xóm, giao hảo bạn bè sẽ được củng cố thêm khi mọi người cùng dành thời gian để thể hiện chúng. Sự thăm viếng, chúc tụng, quan tâm, chia sẻ là biểu hiện của tinh thần ấy. Tuy nhiên, nó chỉ có giá trị đích thực khi vắng mặt của sự toan tính, miễn cưỡng.
Ý thức hưởng thụ
Nói đến Tết là nói đến vui chơi, nghỉ ngơi và hưởng thụ. ‘Tháng giêng là tháng ăn chơi’ là câu nói dân gian dù không hoàn toàn đúng nhưng phản ảnh thời gian hưởng thụ phổ biến của người dân trong năm. Hưởng thụ từ thành quả lao động chính đáng suốt một năm là điều chính đáng được xã hội công nhận. Vấn đề là chúng ta có đủ khôn ngoan để hưởng thụ thành quả chúng ta tạo ra hay không!? Thông thường trước và những ngày Tết, cảnh tượng tiêu thụ bia rượu diễn ra khắp nơi từ nhà riêng cho đến quán xá và ngay cả cơ quan, nhà máy. Sự tiêu thụ quá mức dẫn đến lãng phí tiền bạc, thời gian, đốt cháy trí năng làm cho con người mất kiểm soát dẫn đến những hậu quả thương tâm như tai nạn xe cộ, gây gỗ đánh nhau, người thân khổ sở….Thứ đến là ý thức hưởng thụ vui chơi. Các trò đỏ đen thường xuất hiện rộng rãi trong dịp Tết với nhiều hình thức để kích thích lòng tham, ưa cầu may mắn của một số người. Một khi lao vào chúng, đa phần buồn khổ, lo lắng vì tiền mất tật mang, sức khỏe tiêu hao, tinh thần suy sụp. Do vậy, thay vì lao vào thú vui vô bổ này, nhiều người đã khôn ngoan dành thời gian thư giản, nghỉ ngơi, tham quan du lịch và tu tập. Đó là sự lựa chọn đáng được khuyến khích, nhân rộng vì nó giúp chúng ta lấy lại năng lượng và tinh thần thoải mái để bước vào công việc sau kỳ nghỉ.
Gieo duyên tạo phước, thực hành chuyển hóa
Một tâm lý đặc trưng của người Việt nói chung và Phật tử Việt nói riêng là cầu an xin lộc. Với nhiều người và đặc biệt là Phật tử thì việc đi chùa đầu năm để lễ bái cầu nguyện, gieo duyên tạo phước là không thể thiếu. Thể hiện lòng tôn kính với bậc giác ngộ và ước nguyện bình an, sáng suốt cộng chút lòng mưu cầu thịnh vượng cho bản thân và gia đình thông qua hình thức xin lộc vào những ngày đầu của năm mới thực sự là nét đẹp! Tuy nhiên, khi ý niệm xin lộc đầu năm đã trở thành nét văn hóa ứng xử thì hy vọng rằng nét đẹp của nó sẽ được giữ gìn. Nghĩa là, không nên tự tiện bẻ cành, ngắt hoa được bài trí nơi tôn nghiêm vì làm như thế là chúng ta đang đi ngược lại nét văn hóa đẹp, ngược lại ý niệm ‘xin lộc’. Khi lòng tham ngự trị và thiếu tinh thần bảo vệ cái đẹp chung thì kết quả có được không còn là lộc nữa mà là sản phẩm của thói quen ích kỷ.
Những ngày Tết, Phật tử thường hành hương thập tự để gieo duyên tạo phước, nghe pháp tu tập. Ý thức được giá trị của giáo lý nhân quả mà tạo nhân lành đầu năm thì hành động ấy đáng được trân trọng và khích lệ. Cũng nên hiểu rằng, việc tạo phước không chỉ là tiền tài vật chất mà nó còn thể hiện qua nhiều mặt khác bao gồm cách ứng xử, thái độ, hành vi đẹp. Cho nên, sự trang nghiêm của Phật tử trong suốt chuyến hành hương là đang tạo phước bình an, tự tại. Những hình ảnh chen lấn, tranh giành với toan tính đạt được nổi danh hay nhiều lộc trở nên phản cảm. Ý thức để hạn chế những hành vi như thế là chúng ta đang đóng góp phước báo và chính chúng ta đang thọ hưởng phước báo ấy qua sự bình an, thoải mái hiện tiền.
Nhắc đến cầu an không thể bỏ qua ý niệm cúng sao giải hạn. Không biết tự bao giờ tập tục này đã trở thành ‘chùm gởi’ bám chặt vào đạo Phật và trở thành ‘dịch vụ’ trong đạo Phật. Mặc dù danh từ cầu an được dùng để giảm nhẹ tính chất mê tín của nó nhưng về hình thức cử hành thì nó cũng còn nguyên vẹn. Tập tục do con người tạo ra nhưng con người không dám bỏ bởi một mặt do có nhu cầu và mặt khác do siêu lợi của nó.
Nếu ta làm một cuộc khảo sát các chùa có tổ chức lễ cầu an đầu năm thì kết quả sẽ là một trăm phần trăm các chùa đều có nghi thức đọc tên cầu an kèm theo tên sao hạn xấu. Thầy cô nào cũng thừa nhận rằng đây là phương tiện để dẫn dắt Phật tử vào đạo nhưng Phật tử vào đạo mấy chục năm rồi cũng vẫn cứ được dẫn dắt theo tập tục này. Lẽ ra, Phật tử thuần thành hiểu rõ nhân quả và biết rõ sao hạn là mê tín do quý thầy cô giảng dạy thì sớm từ bỏ nó nhưng ít người làm được. Lẽ ra, các chùa không cung cấp ‘dịch vụ’ này nữa nhưng hầu như ít ai dám làm vì sợ mất Phật tử và vì chưa có sự đồng bộ chung. Phải chăng ma lực của mê tín quá mạnh hay là do siêu lợi chi phối!? Phải chăng Phật tử kiên cường khó chuyển hay là do ta đang dễ duôi chiều chuộng!?
Rõ ràng, quý thầy cô và Phật tử thuần thành đều biết rõ là Phật không ở đó nghe tên Phật tử để mà gia bị hay làm việc tiêu tai giải nạn. Thứ nhất, không có bài kinh nào (cả Nam tông và đại thừa) Phật dạy về đều này. Ngược lại, Phật đưa ra quan điểm rõ ràng thông qua ví dụ hòn đá nặng phải chìm và vết dầu nhẹ phải nổi trên mặt nước dù có ra sức cầu nguyện. Thứ hai, sao hạn do chính con người đặt ra để lý giải các hiện tượng thiên nhiên cũng như sự thăng trầm của kiếp người nhằm trấn an nỗi sợ hơn là sự thật. Bằng chứng là không có cơ sở khoa học nào để bảo vệ quan điểm này ngoại trừ niềm tin. Thứ ba, chỉ việc đọc tên mà không làm điều thiện nào thì không thể có kết quả bình an được. Nếu quý thầy cô đủ năng lực cầu an cho Phật tử thì chính quý thầy cô không có ai chết vì tại nạn, hay rủi ro nhưng thực tế thì không phải vậy. Thế thì, việc cầu an – cúng sao theo hình thức xưa nay là chỉ để đáp ứng nhu cầu quá nặng của Phật tử và tín đồ nói chung hơn là cách thức cầu an đúng nghĩa – sự tu tập chuyển hóa thân tâm. Do vậy, thiết nghĩa cũng nên cải cách hình thức tập tục này.
Sau ba ngày Tết, các chùa nên đồng loạt khai kinh trì tụng cầu quốc thái, dân an. Sự tu tập này được chư vị tổ sư thích nghi và truyền lại rất có ý nghĩa bởi nó thể hiện lòng tri ân và trách nhiệm của người con Phật đối với tổ quốc và nhân dân. Chính sự tu tập là chánh nhân đưa đến hòa bình an lạc chứ không phải những lời cầu suông. Trên tinh thần ấy, Phật tử thuần thành đâu cần nhất thiết phải chờ tới ngày mùng tám hay rằm rồi tranh nhau ‘bắt’ quý thầy cô phải dâng tâu sớ, đọc tên trong khi mình biết rõ là chỉ có người sống mới nghe và hài lòng. Sao ta không bắt đầu từ ngay khai kinh, nếu có thời gian, cùng về chùa cùng tụng kinh tu tập để tạo năng lượng bình an gởi đến mọi người. Sao ta không tận dụng thời gian tập trung vào tu tập, học hỏi giáo pháp thay vì suy nghĩ lo lắng tốt xấu lăng xăng trong đầu cho đến khi nghe tên mình được đọc lên mới gọi là an. Phật tử chúng ta hãy cùng suy ngẫm lại xem!
Tất nhiên, tu tập thì cần có nội dung và hình thức, cần thân lẫn tâm vì hai cái chưa từng tách khỏi bao giờ. Cho rằng có sự tách rời là một ngộ nhận, một sự sai lầm.
Về hình thức, Phật tử có thể tự mình ghi tên gia đình theo phiếu có sẵn và tự đọc cầu nguyện theo ước muốn riêng chứ đừng nên ‘bắt’ quý thầy cô đọc. Phật tử thương tưởng và kính trọng tăng ni cúng dường thì phước báo rất nhiều còn ‘ngã giá’ cho quý thầy cô thì tội nghiệp cho họ và cũng cho Phật tử nữa. Hãy để cho quý thầy cô làm phận sự tu tập của họ hơn là làm những việc mang hình thức tín ngưỡng. Nếu Phật tử cầu trí tuệ, phước báo thì có thể cúng đèn, cúng hoa với lòng thành kính dâng lên đức Phật. Phật tử cũng có thể đóng góp nhà chùa bằng cách dùng một thứ gì đó do nhà chùa phát hành. Những hình thức như vậy đáng khích lệ vì nó thiết thực và mang tính giáo dục.
Về nội dung, không có sự bình an hay phước báo nào mà không xuất phát từ những hành động cụ thể thiết thực. Phật tử cùng thực tập với tăng ni, phát tâm chia sẻ tài vật, tình thương và sự ứng xử tình người là đang tạo phước báo lớn đưa đến bình an. Chẳng hạn, thay vì chiếm một chỗ trong chánh điện để nghe thầy đọc tên mà trở nên bực dọc với ai đó thì tốt hơn hết là lễ Phật xong đi thiền quanh chùa một cách bình an. Sự bình an thực sự có thể có mặt trong ta nếu ta biết cách. Do vậy, cách cầu an và cầu nguyện hay nhất và đúng cách là tập trung vào tu tập quán chiếu để định tuệ phát sinh, nhờ đó, ta thấy rõ nguyên nhân bất an mà dùng pháp để chuyển hóa. Làm cho tâm ta an và người khác an là cách cầu an hữu hiệu nhất.
Sẽ có sự đồng tình và phản đối khi có điều gì đi ngược lại thói quen. Chỉ mong rằng mọi người hãy lắng lòng thật sâu mà suy ngẫm và tự hỏi chính mình. Lời Phật dạy vẫn còn đầy đủ để chúng ta soi sáng. Phương tiện tổ vẫn hữu dụng cho những ai khéo dùng bởi nó giống con dao hai lưỡi. Chỉ e rằng từ phương tiện bị lạm dụng mà thôi. Mùa xuân sắp đến, ước nguyện rằng mọi người sẽ đón Tết an vui và lành mạnh.

Hư Thật Mộng