Sanh tử là
vấn đề ai cũng phải trải qua nhưng không phải ai cũng có thể hiểu rõ bản chất
của nó. Đứng trên quan điểm nhị nguyên, sanh tử được cho là hai thái cực trái
ngược nhau và do đó nhân loại luôn tìm cách kéo dài sự sống mà lý tưởng của nó
là trường sanh bất tử. Dù có nỗ lực vượt bậc, con người cũng không thể đạt được
mục tiêu ấy vì lý do đơn giản, đó là quy luật của tạo hóa. Trong khi chấp nhận
sự thật sanh tử, con người lại tiếp tục tìm cách lý giải hiện tượng sau khi chết
với hai thái cực trái ngược nhau là không còn gì tồn tại sau khi chết (đoạn
kiến) và vẫn còn sự tồn tại sau khi chết. Ở thái độ thứ hai, lại có nhiều quan
điểm khác nhau. Có thuyết cho rằng linh hồn (tâm) tồn tại bất biến hay bất
diệt (thường
kiến), có thuyết cho rằng sau khi chết linh hồn tội lỗi phải chờ đợi đến ngày
phán quyết cuối cùng để hoặc lên thiêng đàng hay đọa địa ngục do Chúa quyết định
(Cơ đốc giáo, Hồi giáo…). Phật
giáo cũng khẳng định sau khi chết con người không mất hẳn mà tiếp tục luân hồi
theo nghiệp đã tạo, trừ các bậc thánh. Thần thức, bardo hay gọi cho dễ hiểu là
linh hồn vô ngã tiếp
tục tồn tại ở các cõi hay cảnh giới phù hợp với nghiệp thức của người ấy.
Do nhận thức
theo quan điểm nhị nguyên nên việc quan tâm đến sự tồn tại sau khi chết là hoàn
toàn dễ hiểu. Theo trường phái Tịnh độ, mục đích của người tu Tịnh độ là cầu
vãng sanh về thế giới Cực Lạc. Tuy nhiên, kinh điển đại thừa thường mang tính ẩn
dụ thay vì nói thẳng chữ đâu nghĩa đó. Do đó, hiểu đúng về giáo lý đại thừa là
một thách đố lớn với hành giả Phật giáo nói riêng và những người tín ngưỡng Phật
giáo nói chung. Bài viết này đưa ra một cách hiểu về ‘vãng sanh’ dựa trên cơ sở
giáo lý cốt tủy của đạo Phật nhằm mục đích cung cấp cho những hành giả tu tập
Phật giáo tín ngưỡng, cụ thể là pháp môn Tịnh độ có thêm một ý kiến tham khảo và
hy vọng rằng nó giúp hành giả tu Tịnh độ có niềm tin vững hơn và thực tế hơn
trong cuộc sống hiện thực này. Bài viết sẽ trình bày bốn điểm như sau:
Quan niệm về thế giới Cực Lạc
Khi tìm hiểu
Phật giáo, người học Phật nên phân biệt hai nguồn giáo lý để hiểu đúng lời Phật
dạy và phương tiện của chư tổ. Trong khi nguồn giáo lý nguyên thủy thường rất rõ
ràng, cụ thể thì nguồn giáo lý đại thừa thường được trình bày thông qua biểu
tượng, ẩn dụ. Do đó, người học Phật giáo đại thừa dễ mắc sai lầm khi hiểu giáo
pháp theo ‘nghĩa đen’ – chữ đâu nghĩa đó thay vì dựa trên cơ sở pháp ấn của Phật
giáo. Rõ
ràng, không ai phủ nhận giáo lý Tịnh độ thuộc hệ đại thừa và mang giá trị biểu
tượng hơn là cụ thể. Kinh A Di Đà miêu tả cảnh giới Cực Lạc ở phương Tây cách xa
hơn ‘mười muôn ức cõi Phật’. Nếu hiểu theo ‘nghĩa đen’ thì Cực Lạc là một cõi
vật chất tồn tại ở phương Tây, cách rất xa thế giới Ta bà. Nếu là cõi vật chất
(dù là báu) có sự sống tồn tại khách quan thì dù xa vẫn có thể đến được bằng
chính thân ngũ uẩn mà không cần đợi chết. Bằng chứng là khoa học đang chinh phục
và thậm chí còn đến được các hành tinh không có sự sống.
Hơn nữa, nếu
cho rằng Cực Lạc là cõi vật chất do Đức Phật A Di Đà sáng tạo và sở hữu thì sẽ
có những phản biện. Thứ nhất, Đức Phật Thích Ca không dạy rằng các đức Phật có
thể sáng tạo ra thế giới như chính bản thân Ngài sinh ra cõi đời này nhưng không
hề sáng tạo ra thế giới Ta bà. Thứ hai, cho rằng Phật A Di Đà sáng tạo ra thế
giới Cực Lạc thì chẳng khác nào chúng ta chấp nhận thuyết Chúa sáng tạo ra Thiên
Đường và tất cả những thứ khác bao gồm con người và thế giới chúng ta đang sống.
Nếu chỉ kể Cực Lạc và Thiên Đường thôi thì Phật giáo và Cơ đốc giáo có gì khác
nhau, vì cả hai đều chấp nhận đấng sáng tạo. Thứ ba, một cõi vật chất sanh mà
không diệt là không thể tồn tại vì trái với pháp ấn vô thường, vô ngã của đạo
Phật.
Dựa vào các ý
trên, người học Phật nên nhìn lại để quán chiếu và hiểu lời Phật dạy theo hướng
biểu tượng. Thể tánh của đức Phật A Di Đà là vô lượng thọ, vô lượng quang, là
Phật Pháp thân. Giáo lý đại thừa đều chấp nhận rằng Pháp thân bao trùm tất cả
thế giới. Thế giới Cực Lạc hiểu theo nghĩa Pháp thân Phật thì đó là cảnh giới
thanh tịnh, thuộc về tâm. Từ thể tánh thanh tịnh của Phật A Di Đà biểu hiện ra
cảnh giới Cực Lạc (Tịnh độ) là hoàn toàn phù hợp với những lời dạy sau:
‘Tự tánh Di Đà, duy tâm Tịnh độ’;
‘Tam nghiệp hằng thanh tịnh, đồng Phật vãng Tây
phương’ (Tỳ ni Nhật dụng);
‘Tịnh độ là lòng trong sạch, chớ còn ngờ hỏi đến
Tây phương, Di Đà là tính sáng soi, mựa phải nhọc tìm về Cực
Lạc.’ (Lời của Phật Hoàng Trần Nhân Tông)’
‘Chớ bảo cõi Tây phương là gần, hành trình về Tây
phương xa xôi đến mười vạn dặm đường. Đức Phật A Di Đà thương mà tiếp dẫn mới
giải thoát khỏi tử sanh.’
‘Chớ bảo cõi Tây phương xa xôi, cõi Tây phương ở
ngay trước mặt. Như nước chảy về biển cả, như trăng lặn không ra khỏi bầu
trời.’
Thế giới Cực Lạc rất xa nhưng cũng rất gần và mọi người đều có
thể tiếp xúc được khi tam nghiệp hằng thanh tịnh, tức không còn phiền não, là
Phật tánh, là Niết bàn, là hạnh phúc chân thật. Khi tâm của chúng ta thanh tịnh
thì đồng tâm Phật (Phật tánh) thì Phật, Bồ tát đang chờ mời chúng ta vào thế
giới Cực Lạc để cùng thể nghiệm sự giải thoát. Như thế, hạnh nguyện độ sanh của
Phật và Bồ tát thường hằng và thật công tâm. Chỉ e rằng chúng sanh không tạo đủ
‘độ cảm’ nên không ‘ứng hợp’ với chư Phật và do đó, cầu thì vẫn cứ cầu mà ứng
thì khó đạt được.
Cầu vãng sanh và cái chết
Nếu ta hiểu
Cực Lạc không phải là cõi vật lý mà là cảnh của tâm thì vấn đề tiếp theo là cầu
vãng sanh như thế nào? Cầu vãng sanh phải chăng là cầu chết?
Xưa nay nói
đến vãng sanh thì ai cũng hiểu là chết và về thế giới Cực Lạc. Do hiểu như thế
nên người tu Tịnh độ rất muốn được vãng sanh để về cõi không còn khổ đau như cõi
Ta bà. Cầu vãng sanh như thế đồng nghĩa với cầu chết và chết để được về cõi tịnh
hết khổ đau thì có vẻ như ai cũng thích. Thế nhưng, sự thật có ai dám vứt bỏ
mạng sống quý giá này để về Cực Lạc ngay không? Chắc chắn là không có, thậm chí
còn muốn sống lâu thêm dù luôn rên đau khổ. Đó là sự mâu thuẩn khi ta hiểu vãng
sanh đồng nghĩa với chết.
Hơn nữa, nếu
có ai hỏi rằng pháp hữu về Cực Lạc để làm gì thì dường như ai cũng đồng thanh
đáp rằng về Cực Lạc để tu thành Phật rồi trở lại Ta bà hóa độ chúng sanh. Lời
đáp ấy có vẻ rất cao thượng mang tinh thần Bồ tát nhưng sự thật thì chính mỗi
người tự biết rõ. Có hai ý xin trình bày để quý vị xem mà đánh giá sự thật của
câu trả lời trên.
Thứ nhất, các
vị tu Tịnh độ thường có ý niệm chán ghét Ta bà, cầu sanh về Cực Lạc với mục đích
để chạy trốn khổ đau nơi Ta bà, mong được hưởng thụ sự an lạc sẵn có nơi Tịnh
độ. Trong kinh Nam truyền (Pali) Phật dạy pháp quán ‘yểm ly’ với mục đích là để
khuyến khích hành giả không tham đắm, chấp trước mà dễ chuyên tâm tu tập phụng
sự, cống hiến; không hiểu từ đâu mà hành giả Tịnh độ lại hiểu chán ghét là chạy
trốn. Vả lại, ở Ta bà – một thế giới có khổ có vui mà hành giả còn chưa phấn đấu
tinh tấn tu tập đúng mức thì lấy gì bảo đảm là quý vị sẽ tu tập ở một nơi hoàn
toàn sung sướng. Quan điểm này hoàn toàn trái ngược với lời dạy của đức Phật
Thích Ca và chính tự thân Ngài chứng minh lời dạy ấy. Đó là chỉ có cõi Ta bà này
là nơi phù hợp nhất để tu hành chứng nghiệm giác ngộ, giải thoát.
Thứ hai, hiện
tại chúng ta không tu cho bản thân mình và giúp những người thân xung quanh
trong khi ta có đủ điều kiện thì liệu ai tin rằng ta sẽ trở lại Ta bà mà độ
sanh. Một lời hứa hẹn không có cơ sở thực tế. Hơn nữa, không có đức Phật, Bồ tát
nào phát nguyện tu tập tại cõi hạnh phúc (Cực Lạc) để được chứng ngộ rồi sau đó
đến cõi khổ đau độ sanh cả. Từ Đức Phật lịch sử Thích Ca Mâu Ni cho đến Đức Phật
A Di Đà, Bồ tát Quan Thế Âm, Bồ tát Địa Tạng, v.v…. Vậy thì, hành giả Tịnh độ
mong về Cực Lạc tu pháp môn gì, thực hành phước báo gì để thành Phật và pháp môn
ấy có phù hợp với hạnh nguyện của Phật A Di Đà và chư Bồ tát đã và đang thực
hiện không?!
Liên hệ đến
Niết bàn, nhiều người cũng quan niệm sai lầm khi cho rằng Niết bàn là chết, hay
Niết bàn hữu dư và vô dư. Quan niệm Niết bàn là chết làm cho Phật giáo trở nên
yểm thế. Sự thật, đức Phật và các vị A-la-hán chứng Niết bàn ngay khi còn sống
và giáo hóa chúng sanh ngay trên cõi đời này, và Niết bàn là Niết bàn chứ không
có hữu dư hay vô dư vì không thể đồng nhất sự tồn tại xác thân với Niết bàn. Có
gì khác nhau giữa Niết bàn khi còn xác thân và khi xác thân tan rã!? Vấn đề chỉ
là do chính chúng ta chủ quan dựa trên hiện tượng mà phân biệt thôi.
Để giải quyết
vấn đề này thì không có gì hay hơn là hiểu đúng ý nghĩa vãng sanh. Chư vị tổ sư,
các bậc tôn túc đã chỉ dạy vãng sanh là vượt qua phiền não. Khi vượt thoát hoàn
toàn phiền não tức là vãng sanh hoàn toàn, là Niết bàn, là Tịnh độ. Và do đó,
cầu vãng sanh là cầu giải thoát, Niết bàn chứ không phải chỉ là cầu về Tây
phương sau khi chết. Vãng sanh đồng nghĩa với chết là phương tiện, là niềm tin
còn vãng sanh là thoát khỏi phiền não mới đích thực là giáo pháp của đức Phật.
Cầu vãng sanh như thế thì vãng sanh càng nhanh càng tốt và chắc chắn không ai từ
chối cả.
Sự ngộ nhận vãng sanh như là một ‘ca vãng
sanh’
Đã hiểu vãng
sanh như là sự chấm dứt phiền não thì vấn đề hộ niệm sẽ được hiểu đúng và không
bị rơi vào tình trạng ngộ nhận ‘vãng sanh như
một ca’. Nhiều nhóm cư sĩ làm công việc hộ niệm cho người chết, sau khi đám
tang xong thì cho rằng đã hoàn thành một ca vãng sanh. Những người hộ niệm phiền
não còn quá đủ, người chết phiền não cũng còn dư. Vậy mà những tuyên bố như thế
cũng làm bao nhiêu người mê và ca ngợi không ngớt. Ngay cả đức Phật khi được hỏi
về trường hợp sau khi chết của các đệ tử, Ngài cũng chỉ trả lời là tái sanh về
cõi lành. Đành rằng quý vị hộ niệm có ý mong muốn tốt nhưng khi tuyên bố một
việc không có thật hay do mình ảo tưởng, nhất là những việc có ảnh hưởng đến sự
thăng trầm của kiếp người thì thiết nghĩ quý vị rất nên thận trọng. Đừng vì đam
mê một chút tiếng tăm mà ta bị tổn phước báo khi gây hoang mang và tạo sự ỷ lại
cho nhiều người chưa hiểu đạo Phật. Ấy là chưa kể những việc làm mâu thuẩn khác
như là đọc tên cầu siêu….. Đã tuyên bố vãng sanh rồi thì phải mừng chứ sao lại
còn khóc, còn đọc tên cầu siêu mà không thay bằng sự tưởng niệm mang tính tri ân
giáo dục và vui mừng. Xin quý vị suy ngẫm lại xem để tránh tự lừa chính
mình.
Khi đã hiểu ý
nghĩa và điều kiện vãng sanh thì những người làm công việc hộ niệm không còn ngộ
nhận ‘có hại’ như trên và gia quyến người chết cũng không bị ‘ảo tưởng’. Hộ niệm
là một việc làm đáng khích lệ vì đó là hành động trợ duyên tích cực cho cả người
chết và gia đình thân quyến của họ. Nó như là một sự nhắc nhở tích cực để người
mất tỉnh thức quay về đường thiện, tái sanh cõi lành. Chư Phật, Bồ tát luôn cứu
độ, tiếp dẫn bằng con đường hướng đạo với vai trò là bậc đạo sư như chính đức
Phật Thích Ca vậy. Việc hiểu lầm vãng sanh là do hộ niệm dẫn đến thái độ ỷ lại
và mong mỏi rằng khi chết có nhiều thầy cô, ban hộ niệm đến tụng kinh mới được
vãng sanh cần phải xem lại. Đáng tiếc, nhiều người xuất gia cũng có tư tưởng như
thế huống gì những người tín ngưỡng. Tất cả chỉ vì sự lạm dụng hai chữ ‘phương
tiện’ trong khi truyền bá Phật pháp.
Tu tịnh độ theo tinh thần nhân quả
Giáo lý nhân
quả là một tuyệt phẩm của đạo Phật do đức Phật giác ngộ và truyền dạy lại. Nhân
quả là chân lý dù con người có tin hay không tin, có chấp nhận hay không chấp
nhận. Hành giả muốn tin thế giới Cực Lạc là cõi vật chất ở Tây phương hay là
cảnh của tâm bao trùm tam thiên thế giới điều đó không trở ngại gì đến sự vãng
sanh. Quan trọng là chúng ta phải dứt sạch phiền não. Đó chính là chánh nhân để
vãng sanh ngay hiện tại và cảnh giới Tây phương.
Muốn đạt được
chánh nhân ấy, tâm hành giả phải luôn thanh tịnh (nhất tâm bất loạn) hay chánh
niệm tỉnh thức. Tâm ấy chỉ có thể đạt được khi miệng nói lời chánh ngữ hay luôn
niệm Phật và thân phải tu thiện, tạo phước, cứu giúp mọi người và muôn loài.
Thành tựu được tâm bất loạn hay chánh niệm tỉnh thức và đầy đủ phước đức thì
hành giả đã thành tựu vãnh sanh. Khi ấy, hành giả nguyện sanh về Cực Lạc hay bất
cứ nơi đâu cũng không có gì trở ngại.
Từ bi và cứu
khổ là bổn nguyện của tất cả chư Phật. Tuy nhiên, ba đời chư Phật chưa vị Phật
nào phủ định nhân quả hay thay đổi nhân quả bằng năng lực thần thông. Nghĩa là
Phật không bao giờ ‘đặc cách’ cho bất cứ một chúng sanh nào để cứu độ khi mà họ
chưa dứt sạch nghiệp vì làm như thế là phủ định nhân quả hay ‘đạp lên’ nhân quả.
Do đó, chúng ta không cần quá bận tâm việc Phật cứu độ theo nghĩa ‘nghĩa đen’
nữa mà nên dành trọn thời gian để tạo chánh nhân theo lời Phật dạy tức là dứt
sạch hoàn toàn phiền não, đạt tâm bất loạn (chánh niệm) và đầy đủ phước đức thì
khi ấy không phải Phật đang cứu độ ấy sao!
Tịnh độ là
một pháp môn có nhiều tranh luận vì có nhiều sự lý giải khác nhau. Do đó, thay
vì phủ bác lẫn nhau thì chúng ta hãy tiếp nhận sự kiến giải khác nhau từ đa
chiều rồi tư duy quán chiếu theo tinh thần Phật dạy trong kinh Kalama. Từ đó,
mỗi người sẽ tìm thấy cho mình hướng đi đúng, phù hợp với giáo lý cốt yếu của
Phật giáo.
Hãy thận
trọng khi tuyên bố những gì mình chưa chứng nghiệm, nhất là những tuyên bố chỉ
dựa vào niềm tin kinh điển mà không phải dựa trên nhân quả và pháp ấn của đạo
Phật. Hậu quả của nó khó mà lường hết được!
Hành giả Tịnh
độ vẫn được khuyến tấn tin Phật A Di Đà cứu độ và thế giới Cực Lạc để tu tập
tinh tấn hơn. Tuy nhiên, tu tập là một quá trình chuyển hóa thân tâm. Niềm tin
và cầu nguyện là chất xúc tác để hành giả thực hành tinh chuyên hơn. Nhờ chất
xúc tác mà hành giả niệm Phật đạt đến nhất tâm bất loạn thì vãng sanh có mặt
hiện tiền. Có thể các bạn không đồng ý nhưng đó là điều các bạn có thể trải
nghiệm được ngay bây giờ và tại thế giới này. Các bạn có quyền nghĩ về tương lai
ở Cực Lạc nhưng lời khuyên chân thành là đừng đánh mất giá trị cuộc sống hiện
tại hay hiểu một cách khác là đừng đánh mất ‘Tịnh độ hiện tiền.’
Xem thêm bài
viết ‘Tịnh độ là lòng trong sạch,
Di Đà là tính sáng soi’ của TT. Thích Phước Đạt
(http://giacngo.vn/triethoc/2011/11/30/5FF001/)