Vấn đề tín ngưỡng, tôn giáo, nhất là tôn giáo bản địa nó gắn chặt với đời sống
tinh thần và văn hóa truyền thống của dân tộc nói chung, quá trình tiếp biến tự
nhiênvăn hóa vùng miền là yếu tố căn bản, dẫn đến một số hệ quả mang tính tích
cực,là lối mở để nghiên cứu, tìm hiểu nét đặc trưng của tôn giáo bản địa ở nước
ta, nhằm hóa giải cái tôn giáo
tính trong tâm lí và đời sống của người Kinh ở
vùng đất Nam bộ, tức hóa giải mối liên hệ giữa “cỏi thiêng” và “cỏi Phàm”. Những
hệ quả đó là:
- Trước
hết, Cho ta một cách nhìn mới khi xem xét vấn đề tín ngưỡng,
tôn giáo để phân định đâu là tín ngưỡng, đâu là tôn giáo. Ở đây, tín ngưỡng
phiếm thần, tín ngưỡng nhân thần và đạo thờ Tổ tiên nó chiếm một vị trí và có
ảnh hưởng sâu sắc trong văn hóa truyền thống, trong đời sống tinh thần của dân
tộc ta. Và, vì thế khi nghiên cứu về tín ngưỡng, tôn giáo ở nước ta không nhất
thiết nhận thức hay úp chụp một cách máy móc theo cách nhìn nhận tôn giáo ở
phương Tây, bởi nước ta là một nước với nhiều loại hình tín ngưỡng truyền thống
và có nhiều tôn giáo, nhất là ở vùng đất Nam bộ. Điều này có ý nghĩa quan trọng
khi nghiên cứu các loại hình tín ngưỡng truyền thống và đặc trưng tôn giáo bản
địa;
- Thứ hai, Từ gốc độ tâm lí học dân tộc và tâm
lí học tôn giáo, ta thấy dòng chảy văn hóa truyền thống trong các loại hình tín
ngưỡng và tôn giáo, đặc biệt là tôn giáo bản địa nó có vai trò quan trọng trong
nhân sinh quan và trong đời sống tinh thần của cộng đồng người
Kinh trên vùng đất mới. Chính nét văn hóa truyền thống ấy là nền tảng làm “linh
hóa” cái phàm, dẫn đến sự xuất hiện nhiều loại hình tín ngưỡng, tôn giáo trên
vùng đất Nam bộ, đặc biệt là Phật giáo Hòa hảo và đạo Cao đài. Ông Đoàn Minh
Huyên đã hóa giải đặc điểm này bằng việc đưa ra giáo thuyết “Học phật, tu nhân”
và báo đáp “tứ ân”[1],với
mục đích “hành Đạo” để “xây Đời” và là tiền đề dẫn tới sự ra đời của Phật giáo
Hòa hảo ở vùng đất Nam bộ;
- Thứ ba, Tín ngưỡng truyền thống là một yếu tố
sâu xa, mang tính đặc trưng trong đời sống tinh thần của dân tộc và là một trong
các yếu tố cấu thành nền văn hóa Việt Nam đậm đà bản sắc dân tộc, do đó việc
cách tân và phát huy nó cũng có ý nghĩa bảo tồn. Điều này, càng có ý nghĩa to
lớn trong bối cảnh đất nước trong xu thế hội nhập quốc tế, gìn giữ và bảo vệ
những tinh hoa văn hóa truyền thống – bản sắc văn hóa vốn có của nước
nhà.
Như
đã nói, là một đất nước vốn có nhiều loại hình tín ngưỡng – tôn giáo, trong phạm
vi của bài viết này, điều quan trọng trước hết là cần có sự phân biệt, làm rõ
hai khái niệm “tín ngưỡng” và “tôn giáo”. Theo đó, làm rõ nét đặc trưng của tôn
giáo bản địa, tức là làm rõ cái tôn giáo
tính trong tâm lí và đời sống của người Kinh ở
vùng đất Nam bộ.
Về
khái niệm tín ngưỡng, nó vừa như một yếu tố chung thuộc về nội
hàm của cả tín ngưỡng và tôn giáo vừa là một hiện tượng xã hội và tinh thần, là
một hình thái ý thức xã hội liên quan, nó gần với tôn giáo nhưng chưa phải là
một tôn giáo và là yếu tố để phân biệt giữa nó với tôn giáo. Như vậy, tín ngưỡng
là một phạm trù rộng có tính bao quát, còn tôn giáo là một phạm trù hẹp nó nằm
trong tín ngưỡng.
Về
khái niệm tôn giáo. Theo nhiều nghiên cứu, khái niệm về tôn
giáo rất đa dạng và phong phú, như:Tôn giáo là sự ảo ảnh về thế giới, là sự
tưởng tượng của con người, là sự hoang tưởng của mỗi người; Tôn giáo là niềm tin
vào lực lượng siêu nhiên ngoài con người; là niềm tin tinh thần của con
người. Có một nhà sử học đã viết: “Theo
nghĩa rộng nhất, từ “tôn giáo” có nghĩa là sự trung tín với một tập hợp các niềm
tin hay lời giảng dạy về những điều huyền bí và sự sống sâu xa nhất và khó hiểu
nhất”. Thêm nữa, Tín ngưỡng – tôn giáo, “là ý chỉ về nhiều hệ thống niềm tin và
các giá trị khác nhau để xoay quanh đó các cộng đồng những người tin tôn giáo
định hình suốt lịch sử và ngang qua trần thế này”. Ông ta còn viết: Tôn giáo còn
“có nghĩa dấn bước trên con đường truy tìm những giải đáp vượt quá những vẻ
ngoài của sự vật, nhưng chất lượng của sự truy tìm đòi hỏi con người nổ lực”…
Và, tôn giáo “là trái tim của thế giới không có trái tim, là tinh thần của một
trạng thái xã hội không có tinh thần”. Trong chống Duhring,
Angels viết: “Mọi tôn giáo chỉ là sự phản ảnh vào đầu óc con người những sức
mạnh bên ngoài, thống trị đời sống hàng ngày của con người. Một sự phản ảnh
trong đó các sức mạnh nơi trần thế mang sức mạnh siêu trần”.
Đúng vậy, theo những khái niệm đó, thực tiển xã hội chỉ nhìn nhận hiện tượng của
một loại hình tín ngưỡng là tôn giáo, khi loại hình tín ngưỡng đó đã hình thành
một cộng đồng có tổ chức (Giáo hội). Điều này nói lên sự khác biệt giữa tín
ngưỡng với tôn giáo, sự khác biệt đó ở chổ là có hay không có tổ chức Tôn giáo
(còn gọi là Giáo hội)[2].
Nếu một hiện tượng tín ngưỡng chỉ dừng lại ở trạng thái niềm
tin, giáo thuyết và nghi lễ thì đó là tín ngưỡng. Ở cả góc độ
xã hội và triết học, có bốn vấn đề được rút ra từ các khái niệm trên đây về tôn
giáo:
Một là, đặc
điểm của tôn giáo là “tín ngưỡng” và “sùng bái” vào những lực lượng siêu tự
nhiên chi phối thế giới; Tôn giáo là hành vi hoạt động của con người thể hiện
bằng đức tin và niềm tin vào thế giới siêu nhiên;
Hai
là, tôn giáo không phải là cái tự có mà
là sản phẩm của con người, là niềm tin tinh thần của con
người;
Ba
là, tôn
giáo chỉ là sự phản ảnh xã hội con người vào ý thức con người; là sự phản ảnh
phi lí hoang đường để rồi đem cái “phi lí hoang đường” ấy làm chuẩn mực để giải
thích và chi phối cái hiện thực.
Bốn
là, tôn giáo còn là khía cạnh đạo đức, văn hóa và cả lịch
sử nữa. Nhiếu vấn đề về đạo đức và văn hóa được tích tụ và đọng lại trong tôn
giáo, bởi
tôn giáo và văn hóa luôn tác động lẫn nhau, quyện chặt vào nhau tạo nên nội năng
trong đời sống mọi mặt của con người và xã hội.
Những khái niệm và đặc điểm ấy, càng làm nổi bật dòng chảy văn hóa truyền thống
là điểm tựa, là yếu tố căn bản cỏi thiêng vốn có trong tâm thức của mỗi con
người và trong tâm hồn dân tộc. Đó cũng là quá trình “linh hóa” cái phàm, là yếu
tố động lực làm xuất hiện nhiều loại hình tín ngưỡng và xa hơn, nó dẫn tới sự ra
đời của các tôn giáo bản địa ở vùng đất Nam bộ.
Theo
nhiều nghiên cứu cho thấy, ngay từ khi xuất hiện xã hội loài người thì tôn giáo
cũng xuất hiện mầm móng của nó, có nghĩa là tôn giáo là một sinh hoạt có mặt từ
thời kì sơ khai của mọi nền văn hóa. Tuy nhiên, tôn giáo cũng bắt đầu rất sơ
khai và cùng tồn tại với sự tồn tại của con người. Trong nghiên cứu, chúng ta đã
nhận ra một trong những đặc trưng con người về tín ngưỡng, tôn giáo là sự “hướng
thiêng” (biết thờ cúng; có niềm tin vào sự cứu độ của trời, Phật, thánh thần;
tin vào số phận và sự may rủi) trong cuộc sống thường ngày. Một đặc trưng nữa
của con người gắn liền với tôn giáo, là con người khi chết biết chôn cất và biết
thờ cúng đồng loại, trong khi bất kì một sinh vật nào, dù khôn đến mấy cũng
không có biểu hiện đó. Và, duy nhất chỉ có con người mới có đặc trưng này. Từ
đây nó có thể dẫn đến một nhận định, rằng: tôn giáo tính có thể được coi là bản
tính của con người.
Nói về bản năng nội tại của con người, Tiến sĩ Phạm Bích Hợp, viết “tôn giáo
tính là một bản tính của con người, vốn có trong cấu thành tâm lí của mỗi cá
nhân, giống như cảm tính, lí tính và những thuộc tính bẩm sinh khác. Đó là một
bản năng nội tại của con người, không có gì có thể loại bỏ nó, bởi nếu loại bỏ
nó thì bản chất người sẽ thay đổi”. Bà viết tiếp “Tôn giáo tính là một phần của
nhân tính, cũng giống như tình yêu, tình thương là những cái cần có cho sự cân
bằng nội tại cả về sinh lí và tâm lí cho mỗi con người”. Bởi mọi dấu hiệu của
tôn giáo đích thực là giải thoát khỏi sự sợ hãi, đem đến cho con người cái hài
hòa, sự cân đối để thích ứng một cách hoàn hảo giữa thân xác với tâm hồn. Và,
thực tiển cho thấy, sở dĩ tôn giáo tồn tại vì chính con người chúng ta đã tự
đánh mất sự hài hòa bản nhiên vốn có của chính mình, rồi phải lầm lũi đi truy
tìm lại cái hài hòa đã mất ấy. Và như vậy, tôn giáo tính là một yếu tố đảm bảo
sự hài hòa bản nhiên trong một con người, dù con người đó bất luận có tin theo
một tôn giáo nào hay không, thì yếu tố ấy vẫn cứ tồn tại.
Từ đây, chúng ta bắt đầu việc tìm kiếm và nghiên cứu đặc trưng các tôn giáo bản
địa trong các cộng đồng cư dân ở Nam bộ. Như đã nói, các tôn giáo bản địa đều
xuất hiện trong lòng các cộng đồng cư dân của trên vùng đất Nam bộ, từ những
thập niên 20, 30 của thế kỉ trước, vùng đất mà cộng đồng dân
cư có
đặc điểm “dung hợp” nhiều thành phần. Nhìn nhận đặc điểm về dân cư ở vùng đất
Nam bộ xưa, một nhà sử học đã viết: “Đó là một cộng đồng phức hợp, một tập hợp
những mãng vỡ của các cộng đồng cư dân truyền thống lâu đời của người Kinh,
người Hoa (ở phương Bắc), cả người Chăm và người Kh’mer. Phần lớn trong số họ là
những binh lính, những tù nhân bị lưu đày, những người di cư tị nạn chính trị,
những kẻ tội phạm bị truy nã hoặc những người bất đồng chính kiến bị o ép đến
mức phải rời bỏ bản xứ của mình để đến đây. Vì vậy, để muốn được tồn tại và phát
triển, những lớp cư dân này đã phải chung lưng đấu cật, sát cánh cùng nhau, vượt
qua những phong ba bảo táp để mở đất, lập làng; cuộc sống của họ đã phải trải
qua, đối phó và chống chọi với đói khát, bệnh tật và thú dữ cùng những tai họa
khác mà không lường trước được… kể cả cái chết. Cùng với việc xuất hiện cộng
đồng cư dân thì những tiếp biến văn hóa ở vùng đất phương nam theo dòng chảy của
truyền thống văn hóa dân tộc”. Tuy nhiên, cho mãi đến đấu thế kỉ XIX, trên vùng
đất này mới nổi lên một dạng phức thể văn hóa vùng mà văn hóa Đại Việt chủ lưu,
tiếp biến tự nhiên với văn hóa bản địa, tạo nên một bản sắc và giá trị văn hóa
với một sắc thái mới. Người ta gọi đó là văn hóa Đại Nam hay còn gọi là văn hóa
Lục Vân Tiên.
Chính những điều kiện về tự nhiên, lịch sử và xã hội ấy, đã hình thành nên tâm
lí và tính cách con người Nam bộ là: giản dị, thẳng thắn mà phóng khoáng cởi mở,
nhưng lại giàu lòng nhân nghĩa, vị tha, biết yêu thương và đùm bọc lẫn nhau
trong khát vọng vươn tới tự do; yêu nước và bất khuất trong dấu tranh chống
cường quyền, bất công; hài hòa trong quan hệ xã hội và gia đình, bởi bản sắc văn
hóa dân tộc đã thắm sâu vào tâm thức của mỗi con người lưu dân. Ở đó nó thiết
thực, sâu đậm và gắn bó hơn nên đã trở thành tâm lí chính yếu của những lưu dân
tha phương trên vùng đất mới, là tố chất tiếp biến quá trình hướng thiêng và
linh hóa cái phàm trong tâm thức con người và trong xã hội trên vùng đất Nam bộ.
Họ có những mong ước chính đáng về cuộc sống, mong ước đó luôn luôn mang đậm màu
sắc tôn giáo, tin vào sự che chở, cứu vớt của thần linh và trời phật. Trong số
họ dần dần xuất hiện những con người ưu tú, có uy tín với cộng đồng, có khả năng
tổ chức chiêu dân để khẩn hoang, lập làng và khả năng trị bệnh cứu người… Những
con người đó đã trở thành những thủ lĩnh, những ông Đạo đứng ra giúp dân, cứu
đời.
Có thể thấy, từ những
đặc điểm về tự nhiên, lịch sử và xã hội trên vùng đất mới mở,
nên những lưu dân “tha phương” dù đến từ
đâu trên vùng đất phương Nam,
họ đều vừa lưu truyền truyền thống Đạo Nhà (Thờ cúng Ông bà)
– một nét văn hóa truyền thống của dân tộc, vừa chịu ảnh hưởng của nền tín
ngưỡng Phật – Nho – Lão… Thêm nữa, họ lại tin thờ thần linh và tục thờ Cô –
Cậu, Tổ nghề, Bà mụ sanh, Bà chúa hoặc thờ các loài vật cùng các lễ hội truyền
thống dân gian khác… Tuy nhiên, niềm tin đó nó mờ nhạt và không sâu đậm mấy, do
vậy trong cuộc sống và tâm thứccủa người dân trên vùng đất Nam kì ngày ấy luôn
bị hụt hẫng và khủng hoảng. Đó là điều lí giải vì sao vùng đất Nam kì xưa, là
mảnh đất màu mỡ cho các nền tín ngưỡng, tôn giáo bản địa ra đời và tồn tại cho
dến ngày nay. Nói về lĩnh vực tín ngưỡng – tôn giáo của Việt Nam, một nghiên cứu
gia đã viết: “Nếu cho rằng, đất nước Việt Nam là một kho tàng tôn giáo, thì vùng
đất Nam bộ là trung tâm của kho tàng đó”. Và, thực tiễn trong các cuộc đấu tranh
chống áp bức và cường quyền người Nam bộ thường sử dụng hình thức tín ngưỡng,
tôn giáo để bảo tồn sự sống và nền độc lập của dân tộc.
Theo một số nghiên cứu về
sự xuất hiện các nền tín ngưỡng, tôn giáo ở đồng bằng sông Cửu long, cho thấy
dòng tư tưởng Phật đạo Bửu Sơn Kì Hương do cụ Đoàn Minh Huyên sáng lập theo giáo
thuyết “Học phật tu nhân”. Ở thời kì đầu, nó “xuất hiện như là một hiện tượng mê
tín thường thấy ở vùng đồng bằng Nam bộ – nơi mà người dân rất tin vào sức mạnh
huyền bí, hiện thân của thần linh và trời phật” và nó chỉ mang yếu tố một loại
hình tín ngưỡng truyền thống, đến khi điều kiện xã hội phát triển, yếu tố tín
ngưỡng đó mới dần dần hình thành một tôn giáo.Môn phái này, được truyền thừa lại
cho các môn đệ của Ngài, là: các ông Đạo Lạp, Đạo Ớt, đạo Đèn (Phật Trùm) và các
ông Quản Thành (Trần Văn Thành), Ngô Lợi, Cử Đa… và sau cuối là Ông Huỳnh Phú Sổ
– người khai sáng nền tín ngưỡng Phật giáo Hòa Hảo. Mặt nữa, từ bản sắc văn hóa
Đại Nam chúng ta cũng nhìn ra một điều nữa, là: Nếu dòng tư tưởng Phật đạo Bửu
Sơn Kì Hương do Ông Đoàn Minh Huyên sáng lập (1849), theo giáo
thuyết “Học phật
tu nhân”. Theo dòng chảy của Giáo thuyết này[3], cho đến cuối thập niên
30 của thế kỉ trước, ông Huỳnh Phú Sổ đã khai sáng nền tín ngưỡng Phật giáo Hòa
hảo (1939), thì cũng như Phật giáo Hòa Hảo, nền Đại đạo Tam kì Phổ độ (gọi tắt
là đạo Cao đài) do Ông Ngô văn Chiêu (Ngô Minh Chiêu) mở giềng mối đạo, vào ngày
23/8 năm Bính dần (1926), từ bối cảnh của một xã hội đương thời, mà trong đó sự
suy thoái và sa sút của các tôn giáo và đạo lí sống đã tạo ra một khoảng trống
về tâm linh và tư tưởng là điều kiện cho một nền tín ngưỡng mới thâm nhập. Từ
đặc điểm và tâm lí của con người và xã hội ở vùng đất Nam bộ lúc bấy giờ, đạo
Cao đài ra đời cũng hướng tới một trào lưu tư tưởng mới: tự do – công bằng – bác
ái, biểu hiện của một xã hội tự do và công bằng.
Mặt dù mỗi một nền đạo mang sắc thái giáo thuyết riêng, nhưng nó đều hướng tới
cái Chân - Thiện – Mĩ và một sự giải thoát. Ta thấy, nếu Phật giáo Hòa Hảo với
giáo thuyết “Học phật tu nhân” và thực hành tứ trọng ân –
tức đạo làm người, coi báo đáp tứ ân như là một đạo lí không
chỉ của những người tín đồ, mà là đạo lí của cư dân vùng đất này. Bởi báo đáp tứ
ân là đạo lí được nối tiếp và phát huy từ truyền thống hiếu nghĩa dân tộc, bởi
tu là phải dựa trên nền tảng đạo đức xã hội, trước tiên là đạo
làm người, như các bậc tiền nhân đã dạy:
“Thiên
kinh vạn điễn, hiếu nghĩa vi tiên”.
Hoặc là:
“Dục
tu tiên đạo, Tiên tu nhân đạo,
Nhơn đạo bất tu, Tiên đạo viễn kí”.
thì
đạo Cao đài bằng giáo thuyết “Tam giáo qui nguyên, Ngũ chi hiệp nhất”[4],
thể hiện sự hòa đồng tư tưởng hợp nhất tôn giáo, đã nhìn nhận một trào lưu tôn
giáo suy thoái, phản ảnh nỗi lo ngại sâu xa của con người đứng trước những biến
động xã hội vào cuối mỗi thời kì – một thời kì mạc pháp bởi sự đối lập cùng cực
giữa văn minh vật chất và văn minh tinh thần. Điều đó đã đưa con người tới điểm
tựa về đức tin Cao đài. Theo đó, đạo Cao đài thực hành Tam công (Công phu, công
quả, công trình) để “tiến tới một Thế đạo Đại đồng và Thiên đạo
giải thoát. Giáo thuyết ấy, đã hầu như làm thỏa mãn hoàn toàn
chiều kích xã hội của tôn giáo, trong đó đồng nhất mục tiêu xã hội với mục tiêu
cá nhân. Sự cứu rỗi và giải thoát chúng sanh là ân huệ của Thượng
đế”.
Cũng như giáo thuyết của nền
Đại đạo, giáo pháp “Học phật tu nhân” của Phật giáo Hòa hảo, mà trọng tâm
là tứ trọng ân nó thể hiện tính nhân văn sâu
sắc, là triết lí cơ bản nó đã hòa nhập vào tâm lí, tình cảm của cư dân vùng đồng
bằng Nam bộ ở nước ta, mặt nữa là biểu hiện về niềm tin vào sức mạnh huyền bí
của thần linh và trời Phật, làm cho tâm thức và tính cách của
người dân ở vùng đất này gắn bó sâu đậm với nền tín ngưỡng, tôn giáo bản địa. Có
thể nói, đây là quá trình tôn giáo hóa tín ngưỡng thần linh dẫn tới sự ra đời
của các tôn giáo bản địa. Các tôn giáo này, như một bức tranh nó phản ánh một
cách chân thực và sâu đậm nhu cầu về tôn giáo, về tâm lí, tình cảm và tính cách
con người trong đời sống xã hội ở vùng đất này trong những thập niên đầu của thế
kỉ XX. Từ đây ta thấy, niềm tin tôn giáo mang lại cho người nông dân Nam bộ một
nghị lực và sức sống đã trợ giúp tinh thần đủ để họ có thể cân bằng bản thể giữa
thế tục và tâm linh trong một con người, để vượt qua mọi áp lực, trong bối cảnh
cuộc sống xã hội bị bế tắt, không lối thoát của ngày ấy.
Sự ra đời của các nền tín ngưỡng và tôn giáo bản địa ở nước ta, chủ yếu là ở
đồng bằng Nam bộ, trước tiên phải nói đến những nguyên nhân về chính trị – xã
hội, vì đây vừa là một yếu tố đặc trưng nó xuất phát từ bối cảnh xã hội ở Nam bộ
lúc bấy giờ, vừa là nguồn gốc sản sinh ra tâm lí, tình cảm và niềm tin vào “thần
linh” của cư dân vùng đồng bằng Nam bộ. Tiếp đó, là một thực trạng suy thoái,
sa sút trong các tôn giáo và đạo lí sống của xã hội đương thời, đã tạo ra một
khoảng trống về tinh thần và tư tưởng là điều kiện đưa đẩy những người nông dân
Nam bộ tìm đến sự an ủi, che chở của thần linh và trời phật.
Như chúng ta biết, do đặc điểm địa lí, lịch sử – xã hội và văn hóa của cư dân
Nam bộ có sắc thái, tâm lí và tính cách riêng, đặc biệt là nhu cầu về đời sống
tâm linh. Điều đó, có thể cho ta một nhận xét, rằng: tôn giáo với tính cách là
một trong số định chế xã hội, đã nói lên vai trò hai mặt trong đời sống xã hội,
nó giữ vị trí quan trọng ngay cả khi nó tiếm quyền cái thiêng với mục đích để
duy trì sự sống ở thế tục. Thế nhưng, cũng chính nó có thể xâm phạm vào bản
nhiên của con người, tự nó làm lu mờ và trở nên sai lệch và theo dòng chảy đó,
người có niềm tin tôn giáo nhận thức rằng: Sự “giải thoát” không phải được tìm
kiếm trong các lĩnh vực của quan hệ xã hội, mà nó được nằm lẫn trong đời sống
tâm linh của con người. Ở bình diện này, sự giải thoát chỉ đạt được khi con
người có niềm tin và biết tự chủ bản thân. Và như vậy, tự chủ bản thân là bản
nhiên và điều kiện cần thiết để thiết lập mối quan hệ đúng đắn giữa bản nhiên
con người hiện thực với bản nhiên con người tâm linh.
Từ
những điều đã được lí giải, phân tích trên đây, chúng ta có thể đi tới một kết
luận, rằng: Các tôn giáo bản địa ở nước ta ra đời từ nguyên nhân về tiền đề kinh
tế – chính trị – xã hội và tư tưởng của xã hội ở vùng đất Nam bộ, vào thập niên
20 và 30 của thế kỉ XX. Vì vậy, các tôn giáo bản địa có bốn đặc trưng cơ bản,
sau:
+
Là một hình thái tôn giáo, vừa thừa kế và phát huy bản sắc văn hóa bản địa trên
vùng đất mới trong dòng chảy của nền văn hóa dân tộc, vừa chịu ảnh hưởng của các
nền tín ngưỡng truyền thống khác và tục tin thờ các thần linh;
+ Có cùng một phương pháp lập đạo, là thông quaphương
pháp “huyền linh học” để gieo sâu vào lòng người niềm tin ở “thần linh”, đến khi
có đông người tin theo, thì mới đi tới khai mở một giềng mối đạo và có cùng một
phương thức hành đạo
là hành Đạo để xây Đời. Mặt
nữa, là tín đồ của các tôn giáo bản địa hầu hết là người nông dân tay lấm chân
bùn, có ý thức dân tộc và tinh thần yêu nước;
+
Giáo lí của các tôn giáo bản địa được phỏng theo tín ngưỡng dân gian truyền
thốngvà tinh hoa
văn hóa dân tộc, nó bao hàm cả hai mặt “xuất thế” và “nhập thế” nên
nó rất gần và phù hợp với hiện thực xã hội, gắn bó và thích
ứng với đặc điểm và tính cách của người nông dân Nam bộ. Theo đó, tôn giáo bản
địa mang tính cứu thế cao và sự ra đời của các tôn giáo này là tiền đề mở ra một
kỉ nguyên mới – kỉ nguyên thế tục hóa trong các tôn giáo.
Tóm
lại,Sự xuất hiện các cộng đồng dân cư trên vùng đất Nam bộ đã trải dài
một thời kì hơn 300 năm, mặt dù đời sống tín ngưỡng – tôn giáo của các cộng đồng
cư dân trên vùng đất này vẫn giữ và thừa kế một số yếu tố văn hóa truyền thống
của dân tộc, nhưng đồng thời nó cũng xuất hiện yếu tố “canh tân” – lượt bỏ một
phần không còn phù hợp với các hình thái tín ngưỡng – tôn giáo trong hoàn cảnh
và môi trường mới và mở ra một hình thái tín ngưỡng – tôn giáo mới thích ứng với
tâm lí và tính cách con người ở vùng đồng bằng Nam bộ, tự do hơn và bình đẵng
hơn. Đó là tôn giáo bản địa – sản phẩm hàm chứa tố chất của con người và xã hội
trên vùng đất Nam Kỳ ngày ấy./.
Trần
Tiến Thành
http://btgcp.gov.vn/Plus.aspx/vi/News/38/0/240/0/4045/Tim_hieu_net_dac_trung_cua_ton_giao_ban_dia_o_Viet_Nam
Lưu để tham khảo
[1]. Tứ ân, gồm: Ân tổ tiên,
cha mẹ; Ân đất nước; Ân Tam bảo và Ân đồng bào và nhơn
loại.
[2]. Giáo hội là một cộng đồng
tín ngưỡng có tổ chức được tập hợp theo cùng một niềm tin chung, có cùng một
giáo thuyết, một nghi thức hành lễ.
[3]. Giáo thuyết “Học phật
tu nhân” được truyền thừa qua nhiều môn đệ (Ông Đạo)… đến thời kì Đức Bổn Sư Ngô
Lợi, lập ra đạo Tứ ân Hiếu nghĩa (còn gọi là Đạo Lành) vào năm 1878.Vẫn theo
dòng chảy của tư tưởng này, vào khoảng thời gian cuối thập niên 30 của thế kỉ
trước, ông Huỳnh Phú Sổ tự xưng là bậc “sanh như trí”, được Phật Thầy Tây An thọ
mạng giáng trần ban thiên khải cho Ông sứ mạng cứu nhân, độ thế nối tiếp dòng tư
tưởng Bửu Sơn Kì Hương. Và, Ông đã trở thành người khai sáng nền tín ngưỡng Phật
giáo Hòa hảo, vào ngày 18 tháng 5 năm Kĩ Mão (1939), với mục đích tiếp tục
truyền thừa giáo pháp “Học phật tu nhân” để thắp sáng ngọn đuốc “Từ bi, chí
thiện” cứu độ chúng sanh.
[4]. Ngũ chi là năm ngành đạo
và ý nghĩa của từng ngành, là: Phật
đạo – Vì thương đời
mà tìm cơn giải
khổ; Tiên đạo – Vì thương đời
mà bày cơ thoát
khổ; Thánh đạo – Vì thương đời
mà dạy cơ thọ khổ; Thần
đạo – Vì thương đời
mà lập cơ thắng
khổ; Nhơn đạo – Vì thương đời
mà đoạt cơ tùng
khổ.