Năm cũ trôi qua, năm mới bắt đầu... Đừng nên nghĩ nhớ
chuyện cũ, và đừng nên mơ tưởng suy tính chuyện tương lai, và chỉ nên sống với
hiện tại thôi. Có thực rằng sống đạo phảỉ là sống “một kiểu hiện sinh” như thế
và cần phải xóa sổ những ngày hôm qua, và phải dẹp hết những bữa hôm kia trong
đầu... mới gọi là tu?
Năm cũ trôi qua, năm mới bắt đầu... Đầu xuân là những
ngày ông bà mình gọi là thời điểm cần để “ôn cố tri tân” – nghĩa là ôn lại các
chuyện cũ và tìm biết cái mới, hay nói bằng ngôn ngữ thời nay là, để rút kinh
nghiệm năm cũ và vạch hướng đi cho năm mới.
Chuyện đời thì như thế, nhưng trong chuyện đạo thì nghe
âm vang nhiều người nói rằng đừng nên nghĩ nhớ chuyện cũ, và đừng nên mơ tưởng
suy tính chuyện tương lai, và rằng chỉ nên sống với hiện tại thôi. Có thực rằng
sống đạo phảỉ là sống “một kiểu hiện sinh” như thế? Có thực rằng cần phải xóa sổ
những ngày hôm qua, và phải dẹp hết những bữa hôm kia trong đầu... mới gọi là
tu? Có thực rằng cần phảỉ dẹp bỏ mọi suy tính về ngày mai, về tuần sau, về năm
sau... mới gọi là tu?
Người ta có thể dẫn ra bản Kinh Nhất Dạ Hiền Giả do Hòa
thượng Thích Minh Châu dịch... và nói rằng thôi hãy bỏ hết chuyện của hôm qua và
ngày mai đi, và chỉ nên sống với hiện tại thôi.
Trong nhiều diễn đàn Phật Giáo và tuổi trẻ cũng nghe âm
vang những lời khuyên tương tự. Cách viết tuy khác biệt chút ít, nhưng tư tưởng
kể như là một. Sau đây là cách diễn đạt ở ba diễn đàn tuổi trẻ Phật Giáo:
- Đừng nhớ chuyện quá khứ, đừng mơ chuyện tương lai,
hãy sống vì hiện tại.
- Đừng gặm nhấm quá khứ. Đừng vọng tưởng tương lai. Hãy
sống tốt ở hiện tại.
- Đừng nuối tiếc quá khứ, đừng quá lo lắng cho tương
lai, và hãy sống tốt ở hiện tại.
Có thực rằng Đức Phật đã dạy đơn giản như thế không?
Chắc chắn là có những gì nhầm lẫn nơi đây.
Nếu không nghĩ nhớ quá khứ, tại sao nhiều lần Đức Phật
kể chuyện tiền thân của ngài và của nhiều vị tăng ni?
Nếu không nghĩ nhớ quá khứ, tại sao Đức Phật nhớ tới 5
người bạn đồng tu ở vườn Lộc Uyển, nên đã tìm lại để thuyết Tứ Diệu Đế và đưa 5
vị trở thành các đệ tử đầu tiên?
Nếu không nghĩ nhớ quá khứ, vậy thì những gì thuộc về
ký ức và trí nhớ để làm chi?
Nếu không nghĩ nhớ chuyện quá khứ, tại sao chư vị A La
Hán hơn hai ngàn năm trước đã mấy lần kết tập kinh điển, đã cùng vận dụng trí
nhớ để tụng đọc lại lời Đức Phật dạy trong quá khứ và bây giờ chúng ta còn có
giáo pháp là nhờ khả năng “nhớ chuyện quá khứ” tuyệt vời của các vị Thánh Tăng
thuở đó?
Mặt khác, nếu không bàn chuyện tương lai, tại sao Đức
Phật tiên tri về Đức Di Lạc sẽ lên cõi trời Đâu Suất, tiên tri về các thời mạt
pháp tương lai, tiên tri về tuổi thọ chúng sanh đời vị lai
Nếu không dặn dò chuyện tương lai, tại sao Đức Phật dạy
trong Kinh Di Giáo: “Các thầy Tỳ kheo, sau khi Như Lai diệt độ phải trân trọng
tôn kính tịnh giới...” (bản dịch của Hòa Thượng Trí Quang).
Có thực rằng Đức Phật dạy là chỉ nên tập trung vào giây
phút hiện tạị hay không?
Câu trả lời nên là: Không đúng hoàn toàn như thế.
Đọc lại Trung Bộ Kinh, trong kinh thứ 131, đúng là Đức
Phật có nói gần gần như thế. Bản dịch từ tiếng Pali sang Anh ngữ của đại sư
Thanissaro Bhikkhu dịch với nhan đề là “Bhaddekaratta Sutta: An Auspicious Day,”
và Hòa Thượng Thích Minh Châu dịch là “Kinh Nhất Dạ Hiền Giả.”
Bản Anh ngữ của đại sư Nanananda lại dịch là
“Bhaddekaratta Sutta: The Discourse on the Ideal Lover of Solitude.” Cả hai đều
là một kinh thôi.
Đây là một kinh dạy pháp thiền quán tuyệt vời. Khi đọc
kỹ, chúng ta sẽ thấy rằng Đức Phật nơi đây đã dạy pháp an tâm, trong đó tâm sẽ
hoàn toàn không dính mắc, không trụ vào bất kỳ pháp nào – cho dù là quá khứ, vị
lai hay hiện tại.
Trong kinh, Đức Phật dạy, “Quý vị không nên theo đuổi
quá khứ và mơ tưởng tương lai.”
Bản của đại sư Thanissaro dịch là, “You shouldn't chase
after the past or place expectations on the future.”
Bản của đại sư Nanananda dịch là, “Let one not trace
back the past or yearn for the future-yet-to-come.”
Bản HT Minh Châu dịch là, “Quá khứ không truy tìm,
tương lai không ước vọng.”
Tất cả chỉ có một nghĩa: giữ tâm vô sở trụ, đừng dính
mắc tâm vào quá khứ hay tương lai.
Hoàn toàn không có nghĩa là đừng nghĩ tới quá khứ hay
đừng nghĩ tới tương lai. Thực tế, ngay khi bạn suy nghĩ tới quá khứ thì lập tức
hành động suy nghĩ là việc của hiện tại; tương tự, ngay khi nghĩ chuyện tương
lai, hành động nghĩ đó chính là cái hiện tiền trước mắt và trong thân mình.
Bản kinh này ghi rõ thêm lời Đức Phật rằng học nhân
đừng nên để tâm nuối tiếc các niềm vui gì về sắc, về thọ, về tưởng, về hành, về
thức của quá khứ.
Kế tiếp, kinh này ghi lời Đức Phật dạy rằng, học nhân
đừng nên mơ tưởng các niềm vui gì về sắc, về thọ, về tưởng, về hành, về thức của
tương lai.
Bản Kinh Nhất Dạ Hiền Giả trong khi dạy pháp an tâm,
sau khi phá bỏ các trường hợp học nhân dính mắc tâm vào pháp quá khứ, và sau khi
phá bỏ cách dính mắc pháp tương lai, liền tiếp theo là yêu cầu phá bỏ luôn các
tâm dính mắc vào pháp hiện tại.
Đặc biệt, đây cũng là một pháp đốn ngộ: có một trường
hợp tích truyện Pháp Cú, sau khi nghe Đức Phật nói là hãy buông “bỏ quá, hiện,
vị lai...” chàng diễn viên nghề xiếc có tên là Uggasena còn đang lơ lửng đứng
trên đầu cột hát xiếc giữa phố đã lập tức đắc quả A La Hán và được thần thông,
khi chưa hết màn biểu diễn xiếc. Không hề trải qua thời gian tu học hay ngồi
thiền nào? Đúng vậy, theo kinh thì như thế. Có nghĩa rằng Đức Phật đã dạy pháp
môn phá bỏ tâm quá khứ, phá bỏ tâm vị lai, phá bỏ tâm hiện tại. Hoàn toàn không
có nghĩa gì như chúng ta thường nghe là đừng nghĩ quá khứ, đừng nghĩ tương lai
và hãy nghĩ hiện tại...
Như thế, Kinh này cũng gợi nhớ tới một công án về Thiền
Sư Đức Sơn (782-865) chuyên giảng Kinh Kim Cang, không tin chuyện các sư dạy
pháp thiền đốn ngộ, nên đã về phương Nam để tìm tranh luận. Khi tới Lễ Châu, gặp
một bà già bán bánh rán, mới hỏi mua cho đỡ đói. Thấy sư gánh bộ Thanh Long Sớ
Sao, bà già nói là sẽ hỏi một câu, nếu sư trả lời được thì sẽ được cúng
bánh.
Sư Đức Sơn đồng ý, bà liền hỏi: “Trong kinh Kim Cương
có nói ‘Tâm quá khứ bất khả đắc, tâm vị lai bất khả đắc, tâm hiện tại bất khả
đắc.’ Vậy thầy muốn điểm tâm nào?”
Sư Đức Sơn lặng thinh, không đáp được. Bà già mới chỉ
Sư đến tham vấn Thiền sư Long Đàm.
Câu chuyện về Sư Đức Sơn cho thấy các thiền sư cổ thời
đã không để dính mắc một tâm nào hết, dù là tâm hiện tại. Trong khi đa phần lời
khuyên thời nay lại bảo là chỉ nên nghĩ chuyện hiện tại; rõ ràng là ngộ nhận
lớn.
Nơi đây, chúng ta sẽ trích bản Kinh Nhất Dạ Hiền Giả do
ngài Thích Minh Châu dịch, các đoạn văn Đức Phật dạy về ba tâm này:
“... Và này các Tỷ-kheo, thế nào là truy tìm quá khứ?
Vị ấy nghĩ: "Như vậy là sắc của tôi trong quá khứ", và truy tìm sự hân hoan
trong ấy; "Như vậy là thọ của tôi trong quá khứ", và truy tìm sự hân hoan trong
ấy; "Như vậy là tưởng của tôi trong quá khứ", và truy tìm sự hân hoan trong ấy;
"Như vậy là hành của tôi trong quá khứ", và truy tìm sự hân hoan trong ấy, "Như
vậy, là thức của tôi trong quá khứ", và truy tìm sự hân hoan trong ấy. Như vậy,
này các Tỷ-kheo, là truy tìm quá khứ.
Và này các Tỷ-kheo, thế nào là không truy tìm quá khứ?
Vị ấy nghĩ: "Như vậy là sắc của tôi trong quá khứ", và không truy tìm sự hân
hoan trong ấy; "Như vậy là thọ của tôi trong quá khứ", và không truy tìm sự hân
hoan trong ấy; "Như vậy là tưởng của tôi... Như vậy là hành của tôi... Như vậy
là thức của tôi trong quá khứ"; và không truy tìm sự hân hoan trong ấy. Như vậy,
này các Tỷ-kheo, là không truy tìm quá khứ.
Và này các Tỷ-kheo, thế nào ước vọng tương lai? Vị ấy
nghĩ: "Mong rằng như vậy sẽ là sắc của tôi trong tương lai", và truy tìm sự hân
hoan trong ấy; "Mong rằng như vậy sẽ là thọ của tôi trong tương lai", và truy
tìm sự hân hoan trong ấy; "Mong rằng như vậy là tưởng của tôi... là hành của
tôi... Như vậy là thức của tôi trong tương lai", và truy tìm sự hân hoan trong
ấy. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là ước vọng trong tương lai.
Và này các Tỷ-kheo, thế nào là không ước vọng trong
tương lai? Vị ấy nghĩ: "Mong rằng như vậy sẽ là sắc của tôi trong tương lai", và
không truy tìm hân hoan trong ấy; "Mong rằng như vậy sẽ là thọ của tôi trong
tương lai", và không truy tìm hân hoan trong ấy; "Mong rằng như vậy sẽ là
tưởng... sẽ là hành... sẽ là thức của tôi trong tương lai, "và không truy tìm
hân hoan trong ấy. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là ước vọng trong tương lai.
Và này các Tỷ-kheo, như thế nào là bị lôi cuốn trong
các pháp hiện tại? Ở đây, này các Tỷ-kheo, có kẻ vô văn phàm phu không đi đến
các bậc Thánh, không thuần thục pháp các bậc Thánh, không tu tập pháp các bậc
Thánh; không đi đến các bậc Chân nhân, không thuần thục pháp các bậc Chân nhân,
không tu tập pháp các bậc Chân nhân; quán sắc là tự ngã, hay quán tự ngã là có
sắc, hay quán sắc là trong tự ngã, hay quán tự ngã là trong sắc, hay vị ấy quán
thọ là tự ngã, hay quán tự ngã là có thọ; hay quán thọ là trong tự ngã, hay quán
tự ngã là trong thọ, hay vị ấy quán tưởng là trong tự ngã, hay quán tự ngã là có
tưởng, hay vị ấy quán tưởng là tự ngã, hay quán tự ngã là có tưởng, hay vị ấy
quán hành là tự ngã, hay vị ấy quán tự ngã là có hành, hay vị ấy quán hành là
trong tự ngã, hay vị ấy quán tự ngã là trong hành; hay vị ấy quán thức là tự
ngã, hay quán tự ngã là có thức, hay quán thức là trong tự ngã, hay quán tự ngã
là trong thức. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là bị lôi cuốn trong các pháp hiện
tại.
Và này các Tỷ-kheo, thế nào là không bị lôi cuốn trong
các pháp hiện tại? Ở đây, này các Tỷ-kheo, có vị Ða văn Thánh đệ tử đi đến các
bậc Thánh, thuần thục pháp các bậc Thánh, tu tập pháp các bậc Thánh, đi đến các
bậc Chân nhân, thuần thục pháp các bậc Chân nhân, tu tập pháp các bậc Chân nhân.
Vị này không quán sắc là tự ngã, không quán tự ngã là có sắc, không quán sắc là
trong tự ngã, không quán tự ngã trong sắc; không quán thọ... không quán tưởng...
không quán hành... không quán thức là tự ngã, không quán tự ngã là có thức,
không quán thức trong tự ngã, không quán tự ngã trong thức. Như vậy, này các
Tỷ-kheo, là không bị lôi cuốn trong các pháp hiện tại...”(hết trích).
Trong Kinh Pháp Cú, nơi kệ ngôn 348, Đức Phật cũng đã
dạy cho chàng cư sĩ Uggasena tương tự. Và ngay khi vừa nghe, trong còn lơ lửng
trên đầu cột biểu diễn xiếc, chàng Uggasena lập tức đắc quả A La Hán và được
thần thông.
Bản dịch từ Tạng Miến Điện bởi ngài Daw Mya Tin là:
“Verse 348: Give up the past, give up the future, give up the present. Having
reached the end of existences, with a mind freed from all (conditioned things),
you will not again undergo birth and decay.”
Có thể dịch là: “Bài kệ 348: Buông bỏ quá khứ, buông bỏ
tương lai, buông bỏ hiện tại. Đạt tới bờ bên kia (Pali: bhavassa paragu: người
qua bờ bên kia, kết thúc sanh hữu, tức A La Hán), với tâm giải thoát mọi pháp
dính mắc, con sẽ không còn sinh tử nữa.”
Bài kệ này trong bản Hán văn của Pháp sư Thường Bàn Ðại
Ðịnh là: “Xả tiền, xả hậu, Xả gian-việt hữu. Nhất-thiết tận xả, Bất thụ sinh
tử.” (Nguồn: phapluan.com)
Trong cuốn Tích Truyện Pháp Cú Tập 3, xuất bản bởi
Thiền viện Viên Chiếu, câu chuyện “Chàng Trai Có Cô Vợ Diễn Viên Nhào Lộn,” đã
kể về trường hợp Đức Phật dạy pháp buông bỏ cho chàng trai Uggasena, trích:
“...Hôm ấy, từ sớm đức Thế Tôn quan sát thế gian và
Uggasena xuất hiện trong tầm quán sát của Ngài. Thế Tôn tự nghĩ: "Người thanh
niên ấy sẽ ra sao?” Ngay sau đó, Ngài biết được: "Con trai quan Chưởng khố sẽ
đứng lơ lửng trên đầu sào kia để biểu diễn màn xiếc của chàng và đông đảo khán
giả sẽ tụ tập xem. Vào thời điển ấy ta sẽ đọc bài kệ bốn câu. Nghe xong tám vạn
bốn ngàn người sẽ được Pháp nhãn thanh tịnh, còn Uggasena thì đắc quả A la
hán.”
Ngày hôm sau, lựa đúng giờ thích hợp, đức Thế Tôn cùng
các Tỳ kheo lên đường vào thành Vương Xá khất thực.
Trước khi Phật đặt chân vào thành, tại chỗ biểu diễn,
Uggasena đưa tay ra dấu chào trả tiếng vỗ tay của khán giả. Và giữ thăng bằng
trên đầu cột, chàng bay lộn bảy vòng trong không, đặt chân trở lại trên đầu cột
và đứng giữ thăng bằng ở đấy. Ðúng lúc này, đức Thế Tôn vào thành, và do sự xếp
đặt của Ngài, khán giả quay nhìn Ngài thay vì nhìn Uggasena biễn diễn. Thấy khán
giả không còn quan tâm đến mình nữa, Uggasena vô cùng thất vọng. Chàng nghĩ: "Ta
phải mất một năm mới luyện được màn biểu diễn này. Thế mà đức Thế Tôn vừa đặt
chân đến thành, khán giả đã bỏ ta quay lại chiêm ngưỡng Ngài. Buổi biểu diễn của
ta thế là hoàn toàn thất bại. "Phật đọc được tư tưởng của chàng liền bảo Trưởng
lão Mục- kiền liên:
- Ông hãy đến bảo con viên Chưởng khố ta muốn xem chàng
biểu diễn tài nghệ.
Tôn giả đến bên cây cột nói với chàng diễn viên:
Này, Uggasena.
Diễn viên xiếc tài ba!
Hãy phô trương tài nghệ,
Cống hiến dân thành ta.
Diễn viên xiếc tài ba!
Hãy phô trương tài nghệ,
Cống hiến dân thành ta.
Uggasena nghe vậy vô cùng hoan hỉ: "Chắc đức Thế Tôn
muốn xem tài năng của ta.” Nghĩ vậy, chàng liền đáp, trong lúc vẫn đứng lơ lửng
trên đầu cột:
Hãy xem tôi, Mục Kiền Liên Tôn
giả!
Bậc đại trí, bậc đại thần thông!
Tôi trổ tài cống hiến đám đông
Và làm họ cười reo thỏa thích
Bậc đại trí, bậc đại thần thông!
Tôi trổ tài cống hiến đám đông
Và làm họ cười reo thỏa thích
Từ trên đầu cột chàng tung mình lên không, quay lộn
mười bốn vòng rồi đặt chân trở lại, giữ thăng bằng trên đầu cột.
Ðức Thế Tôn bảo:
- Này Uggasena, người trí phải biết cởi bỏ buộc ràng
của thân ngũ uẩn trong quá khứ, hiện tại và vị lại. Như vậy, người ấy mới thoát
được sanh, già, bệnh, chết.
Ngài nói kệ:
(348) Bỏ quá, hiện, vị lai,
Ðến bờ kia cuộc đời,
Ý giải thoát tất cả,
Chớ vướng lại sanh già.
Ðến bờ kia cuộc đời,
Ý giải thoát tất cả,
Chớ vướng lại sanh già.
Phật nói xong, tám vạn bốn ngàn người được pháp nhãn
thanh tịnh, con trai quan Chưởng khố đắc quả A la hán và được thần thông ngay
khi chàng còn đứng lơ lửng đầu cột.
Chàng tụt xuống, tiến tới trước đức Thế Tôn, năm vóc
gieo xuống đất đảnh lễ Phật và xin được gia nhập Tăng đoàn. Phật đưa tay nói:
"Hãy đến, Tỳ kheo!" Chàng liền biến thành một vị Trưởng lão chừng sáu mươi tuổi,
với đầy đủ tám vật dụng tùy thân. Các Thầy Tỳ kheo hỏi Trưởng lão:
- Này huynh Uggasena, huynh leo từ cây cột ba chục
thước xuống mà không sợ sao?
Uggasena đáp:
- Chư huynh đệ, tôi chẳng sợ chút nào. Chúng Tỳ kheo
bạch Phật:
- Bạch Thế Tôn, Uggasena nói "Tôi chẳng sợ chút nào" là
nói điều không thật. Ông ấy phạm việc dối trá.
Phật bảo:
- Này các Tỳ kheo, Tỳ kheo như Uggasena đã diệt trừ
tham ái, không còn lo âu sợ hãi gì nữa.”(Nguồn: thuvienhoasen.org).
Tới đây, chúng ta có thể thắc mắc, rằng vì sao trong
các bản kinh xưa, Đức Phật dạy xả ly tất cả các pháp dính mắc ở ba thời quá,
hiện, vị lai... mà bây giờ bỗng nhiên trở thành cách nói đầy hiện sinh kiểu như
“đừng nghĩ chuyện quá khứ, đừng nghĩ chuyện tương lai, chỉ nên nghĩ tới hiện tại
tuyệt vời...”
Ai đã biến hóa lời dạy của Đức Phật trở thành lời
khuyên kiểu thế gian như thế? Ai đã xóa đi lời dạy của Đức Phật rằng phải qua bờ
bên kia, rằng phải xả ly buộc ràng ngũ uẩn (trong quá, hiện, vị lai), rằng phải
thoát khỏi sanh già bệnh chết... để rồi dính mắc vào cái hỷ lạc của tâm hiện
tại?
Mới biết, không dễ gặp những bà già bán bánh như thời
Thiền Sư Đức Sơn.
Cư sĩ Nguyên Giác



22:11
oneillhekhih6165
0 nhận xét:
Đăng nhận xét