Là người học Phật, ai cũng biết vô thường là một trong ba pháp thuộc giáo lý Tam Pháp Ấn (Vô thường, Khổ, Vô ngã theo Phật giáo nam truyền hay Vô thường, Vô ngã, Niết bàn). Nói đến vô thường là nói đến sự thay đổi hoặc là tốt hơn hay xấu hơn, phát triển hay suy vong, tiến bộ hay lạc hậu…Khi mọi sự vật hiện tượng tồn tại khách quan đều không thể thoát ra khỏi quy luật vô thường thì sự thịnh suy của một tổ chức như Phật giáo cũng là tất yếu. Theo Phật giáo, sự thay đổi nào cũng đều có thể truy về quy luật nhân quả. Do đó, truy tìm nguyên nhân đưa đến sự thịnh suy và tìm kiếm giải pháp để duy trì sự cường thịnh và tránh sự suy vong của Phật giáo là một việc đáng làm, nhất là trong giai đoạn Phật giáo đang đối mặt với nhiều thách thức mới. Trên tinh thần đó, người viết sẽ dựa vào phần trích dẫn của bài Kinh Đại Bát Niết Bàn trong Kinh Trường Bộ để phân tích lời Phật dạy về vấn đề liên quan. Bài viết cũng sẽ trích dẫn nguyên nhân đưa đến sự tiêu vong của Phật giáo ở Ấn Độ, sự suy yếu của Phật giáo Việt Nam sau thời Lý Trần. Qua đó, một số đề xuất sẽ được đưa ra để tham khảo và thảo luận cùng với chư thiện hữu tri thức có ưu tư về vấn đề này trên tinh thần chia sẻ, học hỏi.
Sự thịnh suy theo Kinh
Đại Bát Niết Bàn
Bài kinh mở đầu bằng
việc đại thần của vua Ajatasattu (A-xà-thế) nước Magadha (Ma-kiệt-đà) tuân lệnh
quốc chủ đến đảnh lễ đức Thế Tôn và trình bày ý vua muốn chinh phục và tiêu diệt
dân chúng Vajji, nhằm lắng nghe tôn ý của đức Thế Tôn như thế nào. Đức Phật
không trả lời trực tiếp cho vị đại thần mà khéo léo hỏi thị giả A-nan đang hầu
một bên về sinh hoạt của dân chúng Vajii. Bảy điều được đức Phật nêu ra và khẳng
định nếu chúng được tuân thủ thì sự cường thịnh sẽ có mặt. Nhân đó, đức Phật dạy
cho các thầy tỳ kheo bảy pháp làm cho chúng tỳ kheo cường thịnh, không bị suy
giảm. Bảy pháp ấy gồm “(1) thường hay tụ họp và tụ họp đông đảo; (2) tụ họp,
giải tán và làm việc Tăng sự trong niệm đoàn kết; (3) không ban hành những luật
lệ trái giới luật, không hủy bỏ những luật lệ phù hợp giới luật, và sống đúng
với những học giới đã được ban hành; (4) tôn kính, đảnh lễ, cúng dường các bậc
tỳ kheo trưởng thượng và nghe theo lời dạy của họ; (5) không bị chi phối bởi
tham ái đưa đến tái sanh; (6) thích sống những nơi nhàn tịnh; (7) tự thân an trú
chánh niệm khiến các bạn đồng tu chưa đến muốn đến và đã đến được sống an lạc.”
Bảy điều kiện trên có thể rút ngắn là thực hiện đời sống đoàn kết trong chúng,
tôn trọng và sống đúng giới luật, tôn kính cúng dường bậc trưởng lão và thường
tham vấn họ, xa lìa tham ái đưa đến tái sanh và luôn sống chánh niệm để làm cho
bạn đồng tu được sống an lạc. Nói một cách khác, chúng tỳ kheo sẽ cường thịnh
khi tập thể ấy sống theo giới luật, biết học hỏi bậc minh sư và có an lạc do
hành trì lời Phật dạy. Ngược lại, sự suy giảm sẽ xuất hiện.
Sự thịnh suy của Phật
giáo hầu như phụ thuộc vào hàng Tăng bảo. Trong giai đoạn kinh điển được lưu
truyền bằng con đường truyền khẩu thì sự sống còn của Phật pháp hoàn toàn do
Tăng bảo quyết định. Muốn tìm hiểu, học hỏi chánh pháp tức nội dung tam tạng
kinh điển, người ta phải tìm đến các tăng ni. Bởi vì, chính họ là những người
thông thuộc kinh điển, người có hành trì và do đó là nguồn độc quyền và đáng tin
cậy nhất. Cùng quan điểm này, Giáo sư Gombrich, một nhà nguyên cứu Phật giáo nổi
tiếng nhận định: “người ta chỉ có thể tiếp cận lời Phật dạy thông qua Tăng già,
những người duy trì và giảng giải lời dạy ấy.”[1] Khi
kinh điển được biên tập và lưu truyền bằng văn bản, người ta có thể tiếp cận
giáo pháp bằng cách tự đọc kinh sách hay tìm học nơi các tăng ni. Tuy nhiên,
hàng Tăng bảo, những người có học và có hành trì lời Phật dạy vẫn là nơi đáng
tin cậy nhất. Sự hiện diện của những người xuất gia có hành trì đóng vai trò
quan trọng và quyết định sự sinh tồn của Phật giáo bởi vì dù kinh điển vẫn còn
nhưng không còn hàng Tăng bảo thì Phật giáo vẫn bị tiêu vong, ít nhất là đúng
trong trường hợp ở Ấn Độ. Ta có thể nói rằng kinh điển không hoàn toàn bị tiêu
hủy ở Ấn Độ ít nhất cho đến khi không còn bóng người xuất gia. Kinh điển tại đại
học Na-lan-đa bị đốt cháy hoàn toàn không có nghĩa là không còn kinh điển bởi
không có chứng cứ nào cho rằng chỉ có Na-lan-đà độc quyền chứa kinh điển. Còn
bao nhiêu trường đại học khác và nhiều tự viện cũng như hàng triệu gia đình Phật
tử. Không lẻ tất cả họ không giữ một số kinh sách. Chắc chắn là kinh điển vẫn
còn sau biến cố đau thương ấy nhưng không còn người kế thừa lưu giữ, tu tập, và
giảng dạy nên dần dần chúng bị hủy hoại theo thời gian. Như vậy theo nội dung
trên, Phật giáo thịnh khi chúng tỳ kheo thịnh, Phật giáo suy giảm và tiêu vong
khi chúng tỳ kheo suy và biến mất. Một câu hỏi đặt ra là tại sao Phật giáo có
hai chúng gồm xuất gia và tại gia nhưng khi chúng xuất gia mất thì Phật pháp
không được duy trì? Phật giáo là độc quyền của hàng xuất gia chăng? Trước khi
trả lời câu hỏi, chúng ta hãy tìm hiểu nguyên nhân Phật giáo suy vong ở Ấn
Độ.
Nguyên nhân Phật giáo
suy vong ở Ấn Độ
Trong bài “Vì sao Phật
giáo suy tàn tại Ấn Độ”[2] do
D.C Ahir một học giả người Ấn Độ viết và Trần Đức Phi Bằng dịch phổ biến, tác
giả đã đưa ra một số nguyên nhân sau:
Nguyên nhân bên ngoài
gồm: Một
là sự xung đột giữa Bà-la-môn giáo và Phật giáo. Hai là sự thù giận và ghét bỏ
của các Bà-la-môn hành nghề tế lễ. Ba là Phật giáo không những bị mất sự ủng hộ
của nhà cầm quyền mà còn bị đàn áp, phá hủy. Bốn là âm mưu tiêu diệt Phật giáo
của người Hồi giáo. Năm là Phật giáo bị đồng hóa.
Nguyên
nhân bên trong: Thứ nhất tăng sĩ xao lãng việc tu tập, thờ ơ với sứ mệnh truyền
chánh pháp phụng sự xã hội, đánh mất sự giao hảo gần gũi với quần chúng. Thứ
hai, Phật giáo không có tổ chức cư sĩ để giảng dạy, truyền bá và bảo vệ tôn giáo
của mình. Do đó, họ chỉ đứng nhìn mà
không giúp được gì khi các tu viện bị cướp phá, xúc phạm và các tăng sĩ bị trục
xuất hay giết hại. Thứ ba, thiếu vắng những nghi thức cho các sinh hoạt liên
quan đến đời sống văn hóa, tập tục xã hội như hôn nhân, tang tế. Và cuối cùng là
tín đồ mê tín dị đoan.
Theo
tác giả, những nguyên nhân làm Phật giáo bị suy vong tại Ấn Độ không phải bên
trong mà là bên ngoài. Chính sự đàn áp, giết hại, và phá hoại của Ân Độ giáo và
sau đó là Hồi giáo khiến cho tăng sĩ bị giết, chùa chiền bị san bằng, kinh điển
bị tiêu hủy đưa đến Phật giáo bị xóa sổ. Ông cũng bác quan điểm cho rằng Phật
giáo suy tàn là do Tăng già suy đồi vì điều đó chỉ ảnh hướng đến việc truyền bá
và duy trì Phật pháp hơn là suy vong. Người viết cũng đồng ý với quan điểm này.
Tổ chức Phật giáo cho dù có suy đồi vẫn có những bậc chân tu, đạo đức cho quần
chúng nương tựa. Nếu không có sự phá hoại của bên ngoài thì Phật giáo chỉ có thể
thịnh hoặc suy giảm mà không thể suy tàn được.
Cũng theo Từ điển bách khoa toàn thư Phật giáo (Encyclopaedic
Dictionary of Buddhism) xuất bản năm 1998, Samir Nath đưa ra 12 nguyên nhân làm
cho Phật giáo suy vi. Trong đó, ông cũng chỉ liệt kê 3 nguyên nhân bên trong là
sự suy thoái trong Tăng già, sự chia rẻ trong Phật giáo, và thần tượng thờ phụng
đức Phật. Ba nguyên nhân này cũng chỉ làm cho Phật giáo thịnh hoặc suy giảm chứ
không thể suy vong. Như vậy, quan điểm của Ahir được củng cố thêm. Để làm rõ hơn
quan điểm này, ta tiếp tục xem trường hợp Phật giáo suy yếu ở Việt
Nam.
Nguyên nhân Phật giáo
Việt Nam suy yếu sau thời Lý, Trần
Phật giáo Việt Nam cũng trải qua thăng trầm, thịnh suy
theo quy luật. Theo sử liệu, Phật giáo dưới hai triều đại Lý và Trần được thừa
nhận là cực thịnh và được gọi là thời vàng son của Phật giáo Việt Nam. Tuy
nhiên, điều không may mắn là Phật giáo đã không thể duy trì vị thế ấy. Từ cuối
đời trần trở đi, Phật giáo suy đồi và có lúc phục hưng nhưng chưa thể so bằng
với Phật giáo dưới hai triều đại ấy. “Sự suy đồi ở đây không phải là Phật giáo
đánh mất ảnh hưởng trong quần chúng mà là đánh mất vai trò lãnh đạo trí thức,
văn hóa và chính trị.” Nguyên nhân ở đây cũng bao gồm bên ngoài và bên trong
nhưng chủ yếu là từ bên trong. Nguyên nhân bên ngoài là vua chúa hết ủng hộ Phật
giáo như trước và các nhà Nho trí thức công kích Phật giáo. Tuy nhiên, nguyên
nhân chính là do chùa chiền nhiều nên không thể quản lý tốt; tăng chúng đông
nhưng thiếu học; thành phần bất hảo trà trộn vào tăng đoàn làm mất thanh danh;
tăng sĩ kiêu hãnh khi được cúng dường hậu hĩnh; chùa tượng quá nhiều gây lãnh
phí và gây ác cảm đối với các Nho gia; và do Phật giáo ỷ lại quá nhiều vào sự
ủng hộ của thế quyền.[3]Như
vậy, tình trạng nội bộ của Phật giáo ở Việt Nam cũng có phần giống như tình
trạng ở Ấn Độ nhưng Phật giáo Việt Nam không bị suy vong vì Phật tử Việt Nam đã
thành công trong việc bảo vệ và chống lại sự đàn áp và âm mưu tiêu diệt của
ngoại đạo cuồng tín và quá khích. Đó là điều may mắn và cũng là bổn phận của
Phật tử Việt Nam. Có thể Phật tử Ấn Độ cũng đấu tranh bảo vệ Phật giáo nhưng họ
đã không thành công.
Nhận xét và đề
xuất
Từ những dẫn chứng trên, ta có thể suy ra rằng Phật giáo
thịnh hay suy yếu và cuối cùng suy vong là do những nguyên nhân từ bên ngoài lẫn
bên trong. Trong khi nguyên nhân bên trong chỉ có thể làm cho Phật giáo suy yếu
thì nguyên nhân bên ngoài có thể làm Phật giáo suy vong. Khi đã xác định được
nguyên nhân rõ ràng cụ thể rồi, người Phật tử cần phải tìm kiếm giải pháp thích
hợp. Một câu hỏi lớn là tại
sao tín đồ Phật giáo không thể bảo vệ tôn giáo cao quý của mình trước kẻ ngoại
đạo tấn công và phá hoại?
Phật giáo được hiểu tổng quán bao gồm Phật, Pháp và Tăng
gọi là Tam bảo. Tăng già nếu hiểu rộng ra phải bao gồm cả quần chúng cư sĩ vì ý
nghĩa của chữ Tăng là hòa hợp chúng. Khi hàng Tăng bảo suy đồi tức đánh mất vai
trò của họ về lãnh đạo văn hóa, chính trị xã hội và đánh mất sự ảnh hưởng đối
với quần chúng thì ít ra Phật và Pháp bảo vẫn còn nguyên vẹn, nhất là thời văn
bản đã lưu truyền. Tuy nhiên với Phật giáo, hàng Tăng bảo không còn đồng nghĩa
với Pháp bảo không còn và dẫn đến Phật bảo cũng mất. Phật giáo là tài sản chung
của mọi người nhưng rõ ràng chính hàng Tăng bảo độc quyền quyết định sự tồn vong
của Phật giáo. Do đó, trước nhất và trên hết để bảo vệ Phật giáo và làm cho nó
cường thịnh thì phải xây dựng hàng Tăng bảo cường thịnh theo tinh thần kinh đã
nên ở trên.
Tăng bảo cường thịnh là điều kiện cần, Phật tử cư sĩ phát
tâm hộ trì Phật giáo mới là điều kiện đủ. Hàng tăng bảo có thể làm cho Phật giáo
thịnh hay suy nhưng họ không bao giờ làm cho Phật giáo biến mất. Nói cụ thể, họ
không bao giờ tự đánh mất quyền lợi của họ. Vậy thì chỉ có kẻ bên ngoài làm Phật
giáo suy vong trong đó có chính người Phật giáo. Thói thường, khi Tăng bảo suy
đồi thì hàng cư sĩ quay lưng với Phật giáo và có thể theo đạo khác. Quần chúng
Phật tử cư sĩ là lực lượng hộ trì quan trọng mà quay lưng thì Phật giáo suy yếu.
Lúc ấy, ngoại đạo tấn công phá hoại, nhất là bằng vũ trang, thì Phật giáo không
đủ nội lực chống trả để bảo vệ tôn giáo của mình. Ngày nay, các tôn giáo cạnh
tranh khốc liệt để thu nhận tín đồ. Họ không từ thủ đoạn, thậm chí sát hại tín
đồ đạo khác. Do vậy, hướng dẫn hàng cư sĩ tu học và có trách nhiệm với tôn giáo
của mình là nhiệm vụ cần phải thực hiện ngay.
Như học giả Ahir đã nêu, “Phật
giáo không có tổ chức cư sĩ để giảng dạy, truyền bá và bảo vệ tôn giáo của mình.
Phật giáo cũng thiếu vắng những nghi thức cho các sinh hoạt liên quan đến đời
sống văn hóa, tập tục xã hội như hôn nhân, tang tế….” Do không có kế hoạch bài
bản, cụ thể để đào tạo hàng cư sĩ cũng như không thiết lập nghi thức mang đậm
nét Phật giáo để giáo hóa quần chúng, Phật giáo tự đánh mất vai trò của mình
trong xã hội. Vì vậy, tạo dựng nét văn hóa Phật giáo trong tất cả các tập tục,
lễ hội…cũng là điều cấp bách.
Kỷ
niệm ngày đản sinh của đức Từ Phụ Thích Ca Mâu Ni không gì hơn là duy trì và
truyền bá lời dạy của Ngài đến với mọi người. Bên cạnh tổ chức các hình thức kỷ
niệm mang nét văn hóa Phật giáo, Phật tử cũng cần có chiến lược lâu dài. Xây
dựng hàng tăng bảo vững mạnh, đào tạo hàng cư sĩ có thể hoằng pháp và có trách
nhiệm bảo vệ Phật giáo, và thiết lập nền văn hóa Phật giáo trong tất cả các tập
tục sinh hoạt cộng đồng là những hành động thiết thực cúng dường Đức Phật. Chiến
lược này thành công, chắc chắn ngày Phật đản nơi nơi rợp cờ Phật
giáo.
[1] Richard,
F. Gombrich, Theravada Buddhism: a
Social History from Ancient Benares to Modern Colombo, (New York: Routledge,
2006), p. 72.
[2] http://quangduc.com/lichsu/90visaopgsuytan.html
[3] Nguyễn
Lang, Việt Nam Phật Giáo Sử
Lược, (Hà Nội: NXB Văn Học, 2000), tr. 479 – 482.



22:56
oneillhekhih6165
0 nhận xét:
Đăng nhận xét