Thiên “vi chính” sách Luận Ngữ có viết “sinh, sự chi dĩ lễ; tử, táng chi dĩ lễ; tế, chi dĩ lễ”[1] có nghĩa lã: Khi cha mẹ sống thì theo lễ mà phụng sự cha mẹ, khi cha mẹ chết thì theo lễ mà an táng, khi cúng tế cũng phải theo đúng lễ. Từ ngàn xưa, người dân Việt ta vẫn luôn coi trọng Hiếu Lễ, chẳng thế mà cổ nhân đã đúc kết “tứ thời xuân tại thủ, bách hạnh hiếu vi tiên”( bốn mùa thì mùa xuân là đầu, trăm đức hạnh thì hiếu là trước nhất).
[1] Luận Ngữ,
thiên Vi chính
Việc
hiếu lễ thể hiện việc cung dưỡng bố mẹ lúc tại thế và lại càng nghiêm cẩn hơn
lúc họ đã khuất với tinh thần “sự tử như sự sinh” vậy. Dù biết là sự tử như sự
sinh nhưng hiện nay có nhiều người chưa hẳn đã hiểu thờ người đã khuất như thế
nào cho đúng lễ. Với đạo lý uống nước nhớ nguồn nên thờ cúng tổ tiên thành cẩn
là xuất phát từ lòng hiếu kính nhớ ân thâm nghĩa trọng, nó đã ăn sâu vào tiềm
thức của mỗi người ngay từ lúc còn thơ bé:
Cây
có gốc mới nở cành xanh ngọn,
Nước
có nguồn mới bể rộng sông sâu.
Người
ta nguồn gốc từ đâu?
Có
cha có mẹ rồi sau có mình.
Trong
khuôn khổ bài viết này, người viết muốn đề cập đến vấn đề thờ cúng tổ tiên, và
nói rộng hơn về những vấn đề liên quan đến bàn thờ gia tiên.
Tài
liệu nói đến vấn đề này cũng khá nhiều, có thâm viễn và cũng có nông cạn máy móc
thiếu hiểu biết. Người viết muốn mang cái sở kiến, sở văn của mình để tổng hợp
lại và kiến giải thêm một số vấn đề xung quanh bàn thờ gia tiên.
Với hai phạm trù cụ thể là vật thể và phi vật thể.
Vấn
đề là phải thờ phụng như thế nào và cách bài trí ra sao và tại sao lại có quan
niệm này.
Những
đồ vật bài trí thờ trên bàn thờ:
Cách
bài trí bàn thờ truyền thống
Quan
trọng nhất của bàn thờ là bát hương. Nó được ví như ngôi nhà để các cụ trong gia
đình đi về vậy. Bát hương trên bàn thờ có nhiều cách đặt và thờ khác nhau, nhưng
theo cổ lễ thì bát hương trên ban thờ thường ứng với các số lẻ. Bát hương tối kỵ
dùng màu vàng thờ gia tiên vì màu vàng là màu hoàng đế chỉ dành thờ quân, thần
hoặc các vị thời trước có tước vị trong hoàng tộc. Trong bát hương nên dùng tro
sạch đốt từ rơm rạ thơm phủ đầy lòng bát hương. Quan trọng nhất trong bát hương
là cốt bát hương: nó gồm một túi giấy nhỏ có ghi tên tuổi, năm mất, nơi mất và
những câu thần chú, chỉ ngũ sắc được thầy pháp thụ lý vào và coi như
sổ đỏ của người trần giới vậy.
|
|
|
Bài
vị thờ và thần chủ thờ trong khám
Thứ
nữa là đến thần chủ (cũng gọi là bài vị) trong nhà thờ đại tông cũng như nhà thờ
tư chi là “bách thế bất dao chi chủ” nghĩa là bất di bất dịch với tính cách vĩnh
cửu. Bài vị bao giờ cũng làm bằng gỗ bạch đàn trắng viết chữ lên thì rất dễ
trông, lại thơm được coi là tôn quý, thích hợp với việc thờ phụng. Không có gỗ
bạch đàn thì dùng gỗ cây đại hay cây táo, mít…ngày nay chẳng hiểu được vì lí do
gì những thứ này không đắt không quý mà chẳng bền hơn gỗ mít, gỗ vàng tâm là hai
thứ gỗ chuyên dùng làm đồ thờ (tượng Phật, Thần bao giờ cũng tạc bằng gỗ mít,
vàng tâm, bền hơn tất cả các thứ gỗ khác để sơn). Tại các nhà thờ tư gia hay các
bàn thờ mỗi gia đình ít khi có thờ thần chủ, chỉ những nhà có quan tước khoa
bảng, nề nếp hay những nhà hào trưởng giàu có mới thờ thần chủ. Vì theo đúng cổ
lễ thì thờ thần chủ phải theo lễ nghi phiền phức: phải làm nhà trạm bên cạnh
huyệt, mời quan đến đấy đề chủ trước khi hạ huyệt chôn cất. Tục lệ chuộng việc
mời quan to, nhất là có chân khoa bảng, đến đề chủ và một vị quan kém phẩm trật
đến phủng chủ, nghĩa là bưng thần chủ đặt lên linh xa. Phải tổ chức đám rước
quan cho nghi vệ, xếp đặt nơi hành lễ có quy củ, tiếp đãi quan khách trọng thể,
sau khi đã tiễn đưa quan về còn phải đem lễ vật và tiền tạ ơn.
Bàn
thờ với kỷ và đài thờ truyền thống
Phần
nhiều gia đình, bàn thờ gia tiên có cỗ kỷ để trong cùng. Kỷ là cái ghế ngồi,
tượng trưng cho sự hiển hiện, ngự giám của người đã khuất, chiếc kỷ nhỏ, cao độ
30 phân, dài 50 phân, rộng 25 phân. Đặt ba chiếc đài có nắp và trên nắp có núm
cầm lên trên chiếc kỷ nhỏ này. Khi mở nắp đài ra nắp kê xuống dưới, đài đặt lên
trên. Đài làm bằng gỗ được tiện rỗng dưới để khi đặt lên trên nắp đài, đài sẽ ăn
khớp với nắp. Ba đài này dùng đựng chén rượu nhỏ lúc cúng giỗ, còn ngày thường
đài được đậy nắp để tránh bụi bặm, kỷ và khám nhà thường dân cũng như các đồ thờ
cúng khác không được chạm vẽ rồng hay tứ linh mà chỉ chạm vẽ hình tượng biến hóa
con vật ấy.
Bàn
thờ kê kỷ và bày cỗ cúng cũng không được sơn son mà chỉ sơn then hay cánh gián
thếp chỉ bạc, trừ hương án cao ở mặt tiền được sơn son thếp bạc thếp vàng[1].
Những
gia đình giàu sang thì đồ thờ bày rộng hết cả gian giữa: trong cùng là bàn cao
chừng một thước 20 phân trên để khám gian không thờ bài vị thì trong khám để một
cỗ ỷ trên bệ khám phía ngoài cánh cửa khám để hộp đựng bằng sắc của tiền
nhân.
Phía
trước kê một sập tôn cao chừng 75 phân (cao hơn sập ngồi thường), trên mặt sập
phía trong để một khay đài, phía trước để hai mâm xà mặt 80 x 60 phân, một mâm
để bày cỗ (đồ mặn), một mâm để xôi chè (đồ ngọt).
Trên
mặt sập hai góc ngoài để hai bình sứ cao 60, 70 phân, cắm hoa. Bên ngoài cùng là
chiếc hương án cao gần ngang vai, ngắn hơn sập, đứng ngoài trông thấy đủ rõ cả
hai bình sứ.
Trên
giữa hương án là bát hương công đồng, phía sau là chiếc mâm bồng để bày ngũ quả
hoặc chiếc tam sơn để nước và hoa.
Bộ
Tam sự và tam sơn
Hai
bên bát hương là hai chiếc đài lớn để cơi trầu và nậm rượu. Phía ngoài đằng
trước để bộ đồ tam sự hay ngũ sự, hay thất sự bằng đồng; tam sự là một cái đỉnh
và hai cây cắm nến, ngũ sự thì thêm hai cây để đĩa dầu thắp đèn, thất sự thì
thêm một ống hạp hương để đựng trầm với một ống cắm đôi đũa và một dụng cụ đều
bằng đồng để đốt trầm. Hai cây đèn bộ đồ thất sự để hai góc trong trên hương
án.
Giá
đèn nến: thường
bằng đồng hoặc gỗ, tốt nhất là đồng. Cây vàng khối: là vàng mã có đủ 5 màu dành
cho bàn thờ gia tiên nên dùng màu xanh, đỏ, mua về bọc băng dính lại cẩn thận
(băng dính trắng để thờ được lâu) và cây đặt bên trái bát hương (tính theo hướng
bàn thờ) phải cao hơn cây bên phải vì: Tả Thanh Long - Hữu bạch Hổ - có câu ca
rằng: Thà cho Long cao ngàn trượng chứ không để hổ ngẩng cao
đầu.
Lọ
lộc bình: Thường
thờ 1 lọ để cắm hoa vào ngày mùng 1 và rằm, ngày thường để không, nên xưa gọi là
Độc bình. Nay người hiện đại mua 2 lọ thờ đối xứng là không đúng, 02 lọ mua chỉ
để chơi trong nhà ko được đặt lên ban thờ. Lọ lộc bình thường đặt bên tay trái
- hướng đông - theo quan niệm: đông bình tây quả.
Khay
cốc đựng nước thờ: nước
thanh tịnh được thay vào mỗi lần thắp hương: nén nhang chén
nước.
Lọ
đựng hương: đặt
bên phải bàn thờ, làm bằng gốm... Tùy theo kinh tế của gia chủ mà có những vật
thờ khác nhau nhưng nhất thiết trên ban thờ phải đảm bảo 05 yếu tố: Kim - Mộc -
Thủy - Hỏa - Thổ. Đỉnh đồng, đôi hạc, giá nến đồng, tượng trưng cho Kim. Bàn
thờ, ngai hay bài vị tượng trưng cho Mộc. Rượu, chai nước, chén nước thờ tượng
trưng cho Thủy. Ngọn đèn dầu hoặc nến thờ trên ban thờ và là hương khi thắp lên
tượng trưng cho Hỏa. Còn bát hương làm từ đất sét nung lên, hay sành sứ có nghĩa
là Thổ.
(Còn
nữa)
Yên
Sơn - Nguyễn Đức Bá
http://btgcp.gov.vn/Plus.aspx/vi/News/38/0/240/0/3646/Doi_dieu_tim_hieu_ve_ban_tho_gia_tien_Phan_I_
Tài
liệu tham khảo:
- Đất lề quê thói, phong tục Việt Nam, Nhất Thanh;
- Kinh Dịch, Ngô Tất Tố, NXB Văn Học;
- Lễ kinh tập thuyết, Trình Hạo chú;
- Nếp cũ, tín ngưỡng Việt Nam, Toan Ánh;
- Ngữ Văn Hán Nôm, Ngũ Kinh, NXB KHXH, 2004;
- Phương Pháp đặt bàn thờ cúng của người Việt, Minh Đường, NXBTĐ;
- Phong tục lễ nghĩ cổ truyền Việt Nam, TT Thích Thanh Duệ, Nguyễn Bích Hằng, NXB VHTTT;
- Thọ mai gia lễ, Túy Lang Nguyễn Văn Toàn, NXBLĐ 2007.
[1] Dẫn theo
“Đất lề quê thói, phong tục Việt Nam” của tác giả Nhất
Thanh



00:09
oneillhekhih6165
0 nhận xét:
Đăng nhận xét