Cầu
nguyện trong Phật giáo như vậy hoàn toàn mang tính tự lực, không có bóng dáng
của tha lực, nghĩa là không có sự giúp đỡ hay gia hộ theo nghĩa ban phép lành
của chư Phật và các vị thánh hiền. Vậy thì người phật tử thường cầu nguyện chư
Phật và các vị Thánh hiền gia hộ cho mình và người khác mang ý nghĩa gì? Sự gia
hộ ở đây có nghĩa là chư Phật và các vị Thánh hiền truyền sức mạnh niềm tin và
cảm xúc hứng khởi cho người cầu nguyện hành động thánh thiện trong cuộc đời. Bất
cứ khi nào ta nhận được niềm tin và cảm xúc hứng khởi từ hành động và nhân cách
cao thượng của ai đó rồi hành động thiện lợi trong cuộc đời thì khi đó ta có thể
nói rằng người đó đã gia hộ cho ta. Martin Luther King, nhà lãnh đạo phong trào
vận động quyền công dân tại Hoa Kỳ mà ngày nay cả nước Mỹ tôn vinh, đã chịu ảnh
hưởng sâu sắc nguyên lý bất bạo lực hay còn gọi là bất hại được nhà lãnh đạo độc
lập người Ấn độ Mohandas Gandhi đề xướng với tên gọi Chấp trì chân lí trong cuộc
kháng chiến chống chế độ thực dân đế quốc Anh. Ta có thể nói rằng sự thành công
trong phong trào đấu tranh bất bạo động giành quyền công dân của Martin Luther
King là nhờ sự gia hộ của Mohandas Gandhi.
Thứ Ba, 6 tháng 3, 2012
Cầu Nguyện Trong Phật Giáo
Cầu nguyện là một hoạt động
tinh thần phổ biến của con người, có từ buổi sơ khai của nhân loại. Ngay khi có
ý thức về sự bất lực trước sức mạnh của thiên nhiên, trước sự tồn tại bấp bênh
và sự chết chóc không thể kiểm soát được, con người bắt đầu bày tỏ sự cầu xin,
ngợi ca và tạ ơn các đối tượng họ cho là thiêng liêng, có sức mạnh chi phối cuộc
sống của họ.
Ngày nay trong các tôn giáo,
hình thức bảy tỏ sự cầu xin, ngợi ca, và tạ ơn vẫn hiện hữu như là nhu cầu tinh
thần của con người, tuy nhiên cầu nguyện còn là một hình thức thực tập tâm linh.
Đối với các tôn giáo hữu thần, cầu nguyện tuy có nhiều cấp độ ý nghĩa mang tính
thực tập tâm linh, nhưng ý nghĩa căn bản và truyền thống nhất là thể hiện đức
tin tuyệt đối vào đấng tạo hóa toàn năng có quyền ban phước giáng họa để được
nhận phúc lành sống bình an hạnh phúc trong cõi thế này. Chúng ta hãy nghe lời
của một Linh mục viết về ý nghĩa cầu nguyện trong Cơ Đốc giáo như thế này:
“Chúng ta quỳ gối trước mặt Thiên Chúa là một cử chỉ để tuyên xưng lòng tin, để
tôn vinh uy quyền của Thiên Chúa. Quỳ gối, tức là chúng ta đã đặt mình trước
Ðấng Tối Cao, tự nhận mình là nhỏ bé, quỳ gối tôn thờ. Cầu nguyện trước tiên là
đến với Chúa, mà đến với Chúa như một con người nhỏ bé đến trước Ðấng Toàn Năng.
Cử chỉ quỳ gối là một cách biểu lộ lòng tin, biểu lộ sự nhìn nhận Thiên Chúa là
Ðấng Toàn Năng.” Cầu nguyện trong Phật giáo có một ý nghĩa hoàn toàn khác như
thế.
Phật tử cũng quỳ gối trước đức
Phật và các vị Bồ tát thánh hiền, cũng tỏ lòng tôn kính nhưng không phải để
tuyên xưng lòng tin hay tôn vinh uy quyền của Phật và các vị Bồ tát thánh hiền
mà chỉ để quán chiếu các đức tính hiền thiện của chư Phật và Bồ tát thánh hiền
với trái tim khát khao được hoàn thiện những đức tính đó trong chính tự thân của
mình nhằm thành tựu nhân cách cá nhân và hành động xây dựng xã hội toàn thiện.
Mỗi lần quỳ gối hay đứng trước chư Phật và Bồ tát, phật tử cũng cảm thấy mình
nhỏ bé, nhưng không phải nhỏ bé trước một đấng toàn năng đầy quyền uy thưởng
phạt và sinh sát mà cảm thấy nhỏ bé trước công hạnh cao cả và nhân cách hoàn
thiện của các ngài.
Như một hệ quả tự nhiên, cầu
nguyện vói trái tim khát khao hoàn thiện các đức tính của chư Phật và Bồ tát
thánh hiền, người phật tử tự động quán chiếu lại bản tâm mình để trừ khử những
xấu ác và làm phát khởi những đức tính hiền thiện trong chính tự thân mình, vì
theo Phật giáo tất cả những đức tính hiền thiện của chư Phật và Bồ tát đều hiện
hữu trong con người dưới dạng tiềm năng. Do vậy, cầu nguyện trong Phật giáo là
tìm một phương pháp và sự chỉ dẫn hành trì để đoạn trừ các bất thiện pháp và làm
phát khởi tiềm năng trong chính tự thân chứ không phải tìm cầu sự giúp đỡ bên
ngoài thay cho hành động của mình. Hay nói cách khác, cầu nguyện trong Phật giáo
không phải là những ngôn từ cầu xin mà những lời chỉ dẫn tu tập, chuyển hóa tâm
hồn.
Tụng kinh, niệm Phật, trì chú,
thiền định trong Phật giáo là một hình thức cầu nguyện, mục đích là nhằm chuyển
đổi quan niệm mê lầm xấu ác trở nên trong sáng lương thiện. “Cầu nguyện vì thế
chính là phương pháp nhìn lại con người thật của mình, quan sát tâm mình và trừ
khử khát vọng phàm tình, ích kỷ, ỷ lại, yếu đuối. Cầu nguyện là một cách định
tâm định ý để chuyển hóa lòng mình, lòng người” (Thích Tịnh Từ) Hay nói bằng
ngôn từ khác, “cầu nguyện là tiến trình làm phát khởi trạng thái cao thượng nhất
là Phật tính của chúng ta. Một tiềm năng mà mọi người đều sở hữu bình đẳng như
nhau. Phật tính là năng lượng sự sống căn bản và yêu thương vốn có trong vũ trụ.
Cầu nguyện là tiến trình chuyển hóa những xung lực ham muốn ích kỷ thành tình
thương vị tha”.(www.sgi.org/buddhism/buddhist-concepts/prayer-in-buddhism
html)
Cầu nguyện trong Phật giáo như
vậy hoàn toàn mang tính tự lực, không có bóng dáng của tha lực, nghĩa là không
có sự giúp đỡ hay gia hộ theo nghĩa ban phép lành của chư Phật và các vị thánh
hiền. Vậy thì người phật tử thường cầu nguyện chư Phật và các vị Thánh hiền gia
hộ cho mình và người khác mang ý nghĩa gì? Sự gia hộ ở đây có nghĩa là chư Phật
và các vị Thánh hiền truyền sức mạnh niềm tin và cảm xúc hứng khởi cho người cầu
nguyện hành động thánh thiện trong cuộc đời. Bất cứ khi nào ta nhận được niềm
tin và cảm xúc hứng khởi từ hành động và nhân cách cao thượng của ai đó rồi hành
động thiện lợi trong cuộc đời thì khi đó ta có thể nói rằng người đó đã gia hộ
cho ta. Martin Luther King, nhà lãnh đạo phong trào vận động quyền công dân tại
Hoa Kỳ mà ngày nay cả nước Mỹ tôn vinh, đã chịu ảnh hưởng sâu sắc nguyên lý bất
bạo lực hay còn gọi là bất hại được nhà lãnh đạo độc lập người Ấn độ Mohandas
Gandhi đề xướng với tên gọi Chấp trì chân lí trong cuộc kháng chiến chống chế độ
thực dân đế quốc Anh. Ta có thể nói rằng sự thành công trong phong trào đấu
tranh bất bạo động giành quyền công dân của Martin Luther King là nhờ sự gia hộ
của Mohandas Gandhi.
Khi ta tụng đọc kinh sách tìm
hiểu lời dạy, cuộc đời, công hạnh và nhân cách của Phật và các vị thánh hiền là
ta cầu nguyện với các vị đó. Và khi nhân cách, công hạnh và những lời dạy của
các vị đó tạo cho ta niềm tin và cảm xúc hứng khởi hành động theo lẽ phải, thánh
thiện thì các vị đó đã gia hộ cho ta vậy. Trong đạo Phật, cuộc đời, công hạnh,
nhân cách và lời dạy của đức Phật Thích Ca và các vị Bồ tát, các vị tổ sư là
nguồn cảm hứng vô tận cho vô số người trên thế giới từ quá khứ đến hiện tại noi
theo và hành theo. Nguồn cảm hứng của các ngài cho chúng sanh là vô tận thì sự
gia hộ của các ngài cho chúng sanh cũng là vô biên. Nhưng đôi khi ta không nhận
được sự gia hộ của các ngài là vì khi ta cầu nguyện Bồ tát Quán Thế Âm, ta không
biết Quán Thế Âm là gì hay khi ta cầu nguyện đức Phật Thích Ca, đức Phật A Di
Đà, ta không biết đức Phật Thích Ca, đức Phật A Di Đà là ai, đã có những công
hạnh gì. Cho nên khi cầu nguyện với Phật với Bồ tát, ta phải biết cuộc đời, công
hạnh, nhân cách và biểu tượng ý nghĩa của các vị đó nữa.
Ví dụ khi ta cầu nguyện với Bồ
tát Quán Thế Âm, ta phải biết Quán Thế Âm là vị Bồ tát giàu lòng bi mẫn, chuyên
hạnh lắng nghe tiếng khổ của thế gian để cứu khổ. Nhưng quan trọng hơn hết ta
phải hiểu Bồ tát Quán Thế Âm là hiện thân của từ bi, là biểu tượng của từ bi.
Bất cứ ai giàu lòng bi mẫn, rung cảm chân thành trước nỗi đau của cuộc đời và
hành động bằng tất cả khả năng của mình để giúp đời đều là hiện thân của Bồ tát
Quán Thế Âm. Đây cũng chính là ý nghĩa thị hiện ba mươi hai thân tướng của Bồ
tát Quán Thế Âm được nói trong kinh Pháp Hoa, phẩm Phổ Môn. Đọc kinh chúng ta có
thể không tin có một vị Quán Thế Âm đầy thần thông biến hóa, đi mây về gió,
nhưng chúng ta không thể không tin sự hiện thân của vị Bồ tát này, vì sự thực
trong cuộc đời có rất nhiều người với tấm lòng từ bi nhân ái đang giúp đỡ người
hoạn nạn, khó khăn và đau khổ. Chính những người này là nguồn cảm hứng để ta
phát khởi tình thương và hành động bằng tình thương. Và ngang qua hành động bằng
tình thương, chúng ta sẽ “cảm nghiệm được hạnh phúc và niềm hạnh phúc ấy được
gọi là sự gia hộ của Bồ tát Quán Thế Âm”
Trên đây là cầu nguyện mang
tính thực tập tâm linh, còn cầu nguyện theo nghĩa cầu xin thì thế nào. Cầu xin
để thỏa mãn mong ước nào đó như sức khỏe, giàu có, thành công, hạnh phúc, an
bình đều là những nhu cầu chính đáng của con người. Đạo Phật không hề khước từ
những nhu cầu đó. Nhưng cầu nguyện trong đạo Phật phải đi đôi với hành động. Cầu
nguyện không phải là dịp để chúng ta làm biếng, đùn đẩy công việc cho các đấng
Thánh hiền. Cầu nguyện chỉ là chất xúc tác tinh thần tạo niềm tin và sức mạnh để
người cầu nguyện hạnh động mà thôi.
Mới đây, một nghiên cứu của
các nhà khoa học tại đại học Graz, Áo và các đồng nghiệp của họ ở Đức cho thấy
cầu nguyện trước khi làm điều gì đó sẽ mang lại kết quả tốt đẹp hơn. Họ tuyển
tám mươi sinh viên chia thành hai nhóm, một nhóm được yêu cầu cầu nguyện và nghĩ
về tổ tiên, nhóm khác nghĩ về việc mua sắm. Kết quả khảo sát về mức độ tự tin và
làm một số bài kiểm tra về trí tuệ, nhóm cầu nguyện về tổ tiên tỏ ra tự tin hơn
và điểm trung bình, điểm tuyệt đối của họ cũng cao hơn nhóm nghĩ về hoạt động
mua sắm. Lý giải cho điều này, tiến sĩ Peter Fischer nói: “Tổ tiên chúng ta đã
vượt qua hàng loạt thử thách trong cuộc sống của họ, như bệnh tật hiểm nghèo,
chiến tranh, nỗi đau do mất người thân, suy thoái kinh tế. Vì thế khi nghĩ tới
họ, chúng ta nhận ra rằng những con người giống hệt chúng ta về mặt di truyền có
thể vượt qua nghịch cảnh đáng sợ nhất. Nhờ đó mà chúng ta cảm thấy tự tin hơn”.
Cầu nguyện với tổ tiên đã có sức mạnh niềm tin vượt trội như vậy, thì khi cầu
nguyện với Phật, các vị Bồ tát, các vị thánh hiền chúng ta sẽ có nhiều sức mạnh
niềm tin hơn nữa, nhất là trong việc nổ lực hoàn thiện nhân cách bản thân và
hành động tìm kiếm hạnh phúc tối hậu, vì Phật, Bồ tát và các vị thánh hiền đều
là con người như chúng ta, trải qua bao rèn luyện khó khăn gian khổ, cuối cùng
thành tựu được nhân cách và đạt được hạnh phúc tối hậu. Tóm lại, cầu nguyện sẽ
tạo nên sức mạnh niềm tin, mà hạnh động với một niềm tin mạnh mẽ có thể mang lại
những thành công thần kỳ.
Trên đây chúng ta mới chỉ nói
đến phương diện tâm lý trong cầu nguyện, còn khía cạnh siêu hình của cầu nguyện,
tức là kết quả cầu nguyện xảy ra một cách kỳ diệu mà ta hay gọi là sự linh ứng
mầu nhiệm của Phật, các vị Bồ tát thánh hiền. Ví dụ có những người bệnh tật chữa
hoài không hết hoặc bác sĩ đã “chê”, thành tâm cầu nguyện đức Phật Dược Sư,
trong hai tháng tự nhiên họ khỏe mạnh trở lại. Hoặc có những người gặp lúc hoạn
nạn, thành tâm cầu nguyện Quán Thế Âm Bồ tát, họ thoát nạn một cách thần kỳ.
Chúng ta giải thích như thế nào về khía cạnh siêu hình này. Chúng ta không thể
cho rằng người cầu nguyện đạt được những kết quả thần kỳ như vậy là do họ thành
tâm, vì ai gặp lúc hoạn nạn, nguy bách đến tính mạng đều chí thành cầu nguyện
cả, nhưng sao người đạt được, người thì không. Cho nên chúng ta chỉ có thể lý
giải những hiện tượng kỳ diệu đó bằng luật nghiệp báo.
Thực ra cái mà ta gọi là sự
linh ứng mầu nhiệm khi cầu nguyện không thuộc tài sản của riêng tôn giáo hay hệ
thống tín ngưỡng nào. Nó xảy ra khắp mọi nơi trong mọi nền văn hóa và tôn giáo.
Những câu chuyện linh ứng mầu nhiệm trong Phật giáo, Cơ Đốc giáo hay Hồi giáo là
một minh chứng. Đôi lúc không cầu nguyện, sự kỳ diệu vẫn xảy ra như thường.
Chẳng hạn đứa bé bốn tháng tuổi bị cuốn khỏi tay mẹ khi cơn sóng thần khủng
khiếp ập đến thị trấn Ishimomaki ven biển Sendai trong thảm họa động đất ở Nhật
Bản ngày 11/3 vừa qua nhưng vẫn sống khỏe mạnh dưới ngôi nhà đổ nát là một điều
kỳ diệu. Tất cả những điều này chứng minh cho một quy luật khách quan chi phối
toàn bộ nhân sinh và vũ trụ. Đó là quy luật nhân quả nghiệp báo. Luật nhân quả
nghiệp báo giải thích cho ta về những trường hợp kỳ diệu trong cuộc sống. Tại
sao trong vụ tai nạn máy bay kinh hoàng xảy ra ngày 12/5/2010 cướp đi sinh mạng
của 103 người, chỉ duy nhất một cậu bé mười tuổi thoát chết. Điều này luật
nghiệp báo lý giải rằng 103 người tử nạn kia trong các kiếp sống quá khứ họ có
thể đã cùng thực hiện một việc ác lớn nào đó hoặc là việc ác riêng lẽ từng người
nhưng tính chất quả báo giống nhau và có mối nhân duyên với nhau nên đưa đẩy họ
cùng đi trên một chuyến bay. Còn cậu bé chỉ có mối nhân duyên nào đó với họ mà
không có nghiệp ác lớn tạo tác trong quá khứ nên thoát chết một cách thần kỳ như
vậy. Vai trò nghiệp báo quyết định vận mệnh an nghuy của cuộc đời như vậy thì
vấn đề cầu an, cầu siêu trong Phật giáo có tác dụng như thế nào?
Cầu an là mong ước bình an,
sức khỏe và hạnh phúc cho mình và tha nhân, là nhu cầu được an ổn tự thân, đồng
thời thể hiện sự quan tâm yêu thương đến người khác. Khi cầu nguyện mà trong ta
có niềm tin, tình yêu thương, lòng chân thật và sự khiêm tốn thì chắc chắn cảm
ứng được Phật lực gia hộ cho ta được an bình. Cầu nguyện với năng lượng niềm
tin, tình yêu thương, lòng chân thật, tính khiêm tốn là một hình thức của tư duy
tích cực, yếu tố quan trọng dẫn đến hành động tích cực, mà hành động tích cực là
chìa khóa của thành công và hạnh phúc an lạc.
Với sức mạnh niềm tin và năng
lượng tình thương, ta hướng tâm đến người ta cầu nguyện thì sẽ có tác dụng ảnh
hưởng lên người đó. Tâm thức của ta có khả năng thiết lập mối quan hệ tương tác
với tâm thức người khác, thậm chí là với loài vật và thực vật. Một thí nghiệm
của bác sĩ Randolph Byrd cho ta hiểu thêm về tác dụng của cầu nguyện này. Ông
chia 393 bệnh nhân đau tim thành hai nhóm. Một nhóm được một số người hằng ngày
cầu nguyện cho mau lành bệnh, nhóm kia thì không nhưng cả hai nhóm đều được điều
trị cùng một bác sĩ và thuốc men như nhau. Kết quả là nhóm được cầu nguyện bệnh
tật cải thiện tốt hơn năm lần so với nhóm không được cầu nguyện.
Thực ra tác dụng có thật của
cầu nguyện không phải là điều mới mẽ đối với cộng động Phật giáo, vì từ lâu giới
phật tử đều biết đến tác dụng này qua những câu chuyện trong kinh sách. Ví dụ
trong kinh Angulimala, thuộc Trung Bộ Kinh, thuật lại câu chuyện tôn giả
Angulimala cầu nguyện cho một sản phụ đau đớn vì khó sanh. Chuyện kể rằng một
hôm trên đường đi khất thực tôn giả Angulimala gặp một sản phụ khó sanh, đau
đớn, nguy kịch, Tôn giả cảm thương trở về bạch với đức Phật. Đức Phật dạy tôn
giả đến cầu nguyện cho sản phụ đó bằng những lời cầu nguyện thế này: “Thưa chị,
kể từ khi tôi tái sanh trong Thánh đạo đến nay chưa bao giờ cố ý giết hại mạng
sống của chúng sinh, với sự thực ấy tôi nguyện cầu chị được an toàn và sanh đẻ
được an toàn”. Quả thật sau khi cầu nguyện xong, người sản phụ đó được mẹ tròn
con vuông!
Qua lời cầu nguyện mà đức Phật
đã chỉ dạy cho tôn giả Angulimala, rõ ràng ta thấy người cầu nguyện cần phải có
năng lượng tích cực thì sự cầu nguyện mới có hiệu nghiệm. Cụm từ “kể từ khi tôi
tái sanh trong Thánh đạo đến nay chưa bao giờ cố ý giết hại mạng sống của chúng
sinh” nói lên sự thật rằng tôn giả Angulimala đã có công năng tu tập và tích lũy
công đức từ khi bước vào đời sống xuất gia. Vậy nên khi cầu nguyện cho ai, ta
phải có năng lượng tích cực của tự thân, được tạo ra bởi tình yêu thương, lòng
thánh thiện và những việc làm công đức.
Một câu chuyện khác, đúng hơn
là một sự kiện, được ghi lại trong Vinaya Pitaka, phần Cullavagga, mục 26-27,
nói lên rằng tâm thức con người có khả năng thiết lập mối tương quan giao cảm
với các loài động vật. Nhân sự kiện một vị tỳ kheo tu tập trong rừng bị rắn cắn
chết, đức Phật nói rằng nếu vị tỳ kheo đó quán niệm từ tâm đối với các loài rắn
thì chắc chắn sẽ không bị rắn cắn chết và ngài dạy một bài kệ[i] để
các tỳ kheo thực hành rải từ tâm đến không chỉ với loài rắn mà tất cả các sinh
vật khác. Quả nhiên, khi các vị tỳ kheo tụng đọc bài kệ đó với tâm lượng từ bi
rải khắp các loài động vật thì không còn bị rắn, rết, bò cạp đến quấy nhiễu
nữa.
Nếu chúng ta có ác tâm, gây
tổn hại cho kẻ khác thì kẻ khác cũng trở nên có ác tâm và gây tổn hại lại chúng
ta. Cho nên trong thế giới cộng tồn tương sinh này, cách tốt nhất để bảo vệ
chúng ta khỏi bị hại là không làm hại kẻ khác. Mối nguy hiểm, bất an lớn nhất đe
dọa cuộc sống chúng ta chính là chúng ta không có từ tâm với nhau. Cho nên sống
mà có tâm yêu thương đến tất cả chúng sanh là cách tốt nhất để giữ gìn bản thân,
bảo vệ bản thân và hộ trì bản thân. Đây cũng chính là ý nghĩa cầu an trong Phật
giáo. Vậy cầu siêu thì như thế nào?
Cầu siêu cũng là mong ước cho
người thân của mình được an lành hạnh phúc nhưng không phải với người còn sống
mà với người đã quá vãng. Chính vì đối tượng cầu nguyện là những người quá vãng
nên danh từ sử dụng là cầu siêu, siêu dộ, siêu sanh, siêu thoát, với ý nghĩa
mong muốn người quá vãng được “siêu vượt lên trên”, tức là từ những cảnh giới
tối tăm đau khổ đọa đày được thoát sanh lên các thế giới an lành sung sướng hơn,
vì theo thế giới quan Phật giáo, có rất nhiều cảnh giới sống khác nhau, trong đó
có những thế giới khổ đau, thiếu thốn, bức bách như địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh
và những thế giới có đời sống an vui sung sướng hơn như các cõi thiên, đặc biệt
sung sướng và an lạc nhất là thế giới cực lạc của Phật A Di Đà.
Giống như hiệu nghiệm của cầu
an, cầu siêu cũng có tác dụng hiệu quả của nó. Bởi lẽ con người chết đi nhưng
tâm thức vẫn tồn tại. Tâm thức của người còn sống và tâm thức của người đã chết
vẫn có khả năng thiết lập sự tương tác ảnh hưởng lẫn nhau, dù chúng ở hai thế
giới khác nhau. Bằng năng lượng tình thương, sức mạnh tâm linh do rèn luyện đạo
đức và thiền định cộng với những việc làm công đức, chúng ta hướng toàn bộ năng
lực này đến những người quá cố nguyện cầu họ được siêu thoát về các cảnh giới an
lành thì chắc chắn có tác dụng hỗ trợ tích cực. Kinh Vu Lan thuật lại trường hợp
bà Thành Đề, mẹ của ngài Mục Kiền Liên, nhờ oai lực cầu nguyện của chư Tăng
thoát khỏi cảnh giới địa ngục, thác sanh lên cõi trời là một thí dụ điển
hình.
Thế nhưng, trong kinh Tương
Ưng, ta bắt gặp những lời dạy khác của đức Phật. Để trả lời câu hỏi liệu đức
Phật có thể cầu nguyện cho những người đã chết sanh vào các thiện xứ và thiên
giới, điều mà các đạo sĩ Bà La Môn đương thời tự cho là họ có khả năng làm như
vậy, của thôn trưởng Asibandakaputta (A Tư La Thiên), đức Phật hỏi lại vị thôn
trưởng này: Này thôn trưởng, ông nghĩ thế nào, một người khi sống đã tạo nhiều
ác nghiệp như sát sanh, trộm cướp, tham lam, dối trá… cho đến sống theo tà kiến,
lúc chết được nhiều người chắp tay cầu nguyện, mong rằng người này được sanh lên
thiện thú, thiên giới và cõi đời này, thì có phải do nhân cầu nguyện ấy mà người
đó được sanh lên thiện thú, thiên giới không? Thôn trưởng trả lời không thể có
chuyện như vậy được. Có vẻ như để tăng thêm tính thuyết phục cho quan điểm của
mình, đức Phật nêu lên một ví dụ:
Ví như một tảng đá lớn được
ném xuống hồ nước rồi mọi người đứng trên bờ chắp tay cầu nguyện, van xin, mong
rằng tảng đó ấy nổi lên. Này thôn trưởng, ông nghĩ có phải nhờ vào sự cầu nguyện
đó mà tẳng đá ấy nổi lên không? Thôn trưởng trả lời đó là chuyện không tưởng,
không thể nào xảy ra được.
Đến đây đức Phật kết luận: Này
thôn trưởng, một người sống theo tà kiến, làm mười ác nghiệp thì khi chết dù
được đông đảo quần chúng cầu nguyện sanh thiên vẫn phải sanh vào cõi dữ, ác thú,
đọa xứ và địa ngục.
Dựa vào lời dạy trên của đức
Phật, một số người cho rằng cầu nguyện trong cầu siêu là vô ích, không có tác
dụng gì. Nhưng nếu như vậy thì giải thích thế nào về trường hợp bà Thanh Đề nhờ
năng lực cầu nguyện của chư Tăng mà thoát khỏi cảnh giới khổ đau, sanh lên thiên
giới. Phải chăng lời Phật mâu thuẫn? Tôi nghĩ kinh Phật không hề mâu thuẫn nếu
ta xem xét trong bối cảnh mà bài kinh đó được nói ra.
Nhân duyên dẫn thôn trưởng
Asibandakaputta đến hỏi đức Phật xem ngài có khả năng làm cho
những người đã chết sanh thiên hay không là vì các đạo sĩ Bà La
Môn thời đó tuyên bố họ có thể cầu nguyện cho những người đã chết bằng cách gọi
tên và dẫn họ vào thiên giới. Trong thâm tâm thôn trưởng Asibandakaputta, ông
cho rằng cầu nguyện như vậy đồng nghĩa với sức mạnh quyền năng, mà đức Phật thì
chưa bao giờ tự nhận mình là một người có quyền năng. Cho nên ý nghĩa cầu nguyện
mang tính quyền năng như vậy không được đức Phật chấp nhận. Ngài phủ nhận là phủ
nhận chính điểm này, chứ không phải phủ nhận hoàn toàn vai trò cầu nguyện trong
tiến trình siêu độ vong linh.
Năng lực cầu nguyện không phải
là sức mạnh quyền năng muốn đẩy ai xuống địa ngục thì đẩy, muốn đưa ai lên thiên
đường thì đưa. Xuống địa ngục hay lên thiên đường là tùy vào nghiệp lực của mỗi
người. Khi một người đã chết mang theo nhiều nghiệp bất thiện, thì cầu nguyện
chỉ đóng vai trò trợ duyên, soi sáng và thức tỉnh tâm thức người đó để họ tự
chuyển hóa nghiệp duyên của mình mà thăng hoa lên các cõi lành. Đây chính là ý
nghĩa cầu siêu trong Phật giáo.
Cầu nguyện trong Phật giáo,
tóm lại, dù với mục đích nào, thực tập tâm linh, thực hiện một điều ước, hoàn
thành một tâm nguyện, đạt được một thành tích hay gì gì đi nữa, thì tất cả đều
phải được đặt trên sự tự nỗ lực bản thân, đối tượng mà ta cầu nguyện chỉ đống
vai trò đánh thức niềm tin và truyền cảm hứng cho ta nỗ lực hành động mà
thôi.
[i] Với các loài
không chân, tôi có tâm yêu thương
Với các loài hai chân, tôi có
tâm yêu thương
Với các loài bốn chân, tôi có
tâm yêu thương
Với các loài nhiều chân, tôi
có tâm yêu thương
Xin các loài không chân đừng
làm hại tôi
Xin các loài hai chân đừng làm
hại tôi
Xin các loài bốn chân đừng làm
hại tôi
Xin các loài nhiều chân đừng
làm hại tôi
Hết thảy chúng sinh, tất cả
sinh vật
Và tất cả sinh linh
Nguyện cầu tất cả đều được an
lành
Nguyện cầu tất cả không gặp
điều ác hại.
Hoàng Nguyên
Theo daophatngaynay.com



22:22
oneillhekhih6165
0 nhận xét:
Đăng nhận xét