Gần
đây, có nhiều người nêu ra một thắc mắc khi thấy danh hiệu của các vị Tăng Sĩ
đều mở đầu bằng chữ Thích tỷ dụ như Thích-Tâm-Châu, Thích Tâm Giác, v.v… và do
đó nêu lên những câu hỏi:
-
Chữ Thích có nghĩa gì?
-
Tại sao người tu theo hạnh xuất thế mới dùng chữ Thích? Người tại gia tu Phật
có dùng chữ Thích được không?
-
Chữ Thích nếu là một họ thì họ ấy phát sinh tự đâu, thịnh hành vào thời
nào?
với
mục đích diễn xướng và luận giải về chân nghĩa những danh từ Phật Giáo, đặng làm
tài liệu nhận xét chung, nơi đây đề cập đến từng vấv đề giải đáp để cùng liễu
giải và xác luận:
I. Chữ
Thích có nghĩa gì?
Theo
sự dịnh nghĩa danh tự thông thường thì chữ Thích có nghĩa: cổi ra, nới ra, giải
thích rõ ràng nghĩa sách tỷ dụ như chữ Thích-Hỗ là giải thích cho rõ nghĩa một
chữ, một câu: Thích Huấn là giải thích cho rõ những lời huấn giáo.
Ngoài
ra, chữ Thích lại cũng có nghĩa buông thả như trong sách có chữ: “Kiên trì bất
thích” tức là giữ vững không buông, và, chữ “Khai thích vô cô” tức là buông tha
cho kẻ không tội.
Chữ
Thích cũng lại còn có nghĩa tiêu tan hết những nỗi sân hận trong lòng như giảng
câu “Tâm trung vi chi thích nhiên” phải hiểu rằng trong lòng đã được tiêu tan
hết cả phần nào điều sân hận không còn vướng vấp một chút ân hận, não phiền gì
nữa.
Tuy
nhiên, chân nghĩa chữ Thích mà các vị tu hành đặt trước pháp hiệu chỉ có nghĩa
đơn thuần là:
a)
coi mình là Thích tử, tức là đệ tử của Phật, bởi theo quan niệm Trung-Hoa từ đời
Tấn cho rằng những ai theo đạo của đức Thích-Ca phải nên lấy theo họ Thích mà
chữ Thích tức là họ Thích-Ca cho dễ xưng hô.
b)
một vị tu theo hạnh khoáng nhiên không vướng mắc phiền não thế cảnh.
Tóm
lại thì chữ Thích chư Tăng hay dùng là theo họ Phật Thích-Ca, ngụ kỳ chung còn
có ý nghĩa hiểu rành sự lý, tâm hồn buông thả, tiêu hết não phiền, không còn mảy
may trần lụy.
II. Tại
sao người tu theo hạnh xuất thế mới dùng chữ Thích? Người tại gia tu phật có
dùng chữ Thích được không?
Thật
ra, khi Phật giáo truyền qua Trung-Hoa vào khoảng thời Hán, những vị mặc dầu tu
theo đạo Phật, trở thành Tăng-sĩ có bỏ đi giòng họ thế tục, nhưng thường theo
hai điều kiện:
1.
Tự đặt cho mình theo họ Trúc có nghĩa tu theo nguyên tắc tu trì của các bậc
Tăng-Già từ Tây-Trúc truyền sang.
2.
Hoặc theo họ của bậc Sư-Trưởng đã truyền giáo cho mình tỷ dụ như Ngài Chi-Tuần
nguyên trước họ Quan, nhưng vì thụ giáo với ngài Chi-Khiêm nên đổi thành họ Chi,
ngài Bạch-đạo-Hiển nguyên họ Phùng nhưng học thầy là Bạch Thi Ly Mật nên đổi
thành họ Bạch v.v…như vậy là khi đạo Phật mới truyền qua Trung-Hoa từ đời Hán,
khoảng 25 - 220 T.L. hầu như theo một tục lệ thông thường như vừa trình bày.
Kịp đến thời Đông-Tấn khoảng 317 - 349 T.L. Ngài
Đạo-An người Thường-Sơn, tỉnh hà-Bắc, sinh năm 312, xuất gia từ
12 tuổi, học hạnh rất siêu việt đã đề xướng việc cải biến để những vị tu hạnh
xuất-gia theo Phật nên theo họ của Phật, và do đó, những
Tăng-sĩ thụ đại-giới (Giới Tỳ Khưu: 250 giới) lấy theo họ Thích tử.
Viện
dẫn lý do này, Ngài Đạo-An nêu ra một đoạn trong kinh Tăng-Nhất A-Hàm có chép:
“Bốn con sông lớn chảy vào bể cả, tự nó không còn danh tự gốc của con sông mà
chỉ có danh tự là “bể cả”. Việc định họ cho người tu hành cũng như thế.
Xưa ở Ấn-Độ có 4 giòng họ là: Sát-Lỵ, Bà-La-Môn, Trưởng-giả, Cư-sĩ. Đối với
những ai gọt bỏ râu tóc, khoác 3 tấm áo pháp như Phật chế định, nguyện xin xuất
gia học đạo thì không còn giữ giòng họ gốc mà chỉ kêu là: Sa-Môn tức là đệ-tử
của đức Phật Thích-Ca mà thôi.
Trong
kinh Đại-Bát Nhã xác định rằng: “Phi sa-Môn, phi Thích-Ca tử” có nghĩa nếu không
phải là bậc Sa-Môn tức là bậc xuất-gia theo Phật thì chưa phải là đệ-tử của đức
Thích-Ca.
Bởi
những lý do trên, chỉ khi nào phát nguyện xuất-gia và đã thụ
đại-giới mới được xưng là thuộc giòng họ Thích tức là đệ-tử
chính của Phật và sau nầy coi các bậc Tỳ-Khưu là hàng trưởng-tử của Phật nên
được đổi họ thế gian mà lấy theo họ Thích vậy.
III. Chữ
Thích nếu là một họ thì họ ấy phát sinh tự đâu?
Thịnh
hành vào thời nào?
Đúng
ra họ Thích-ca là họ của đức Phật mà theo lịch sử là một giòng họ quý tộc trước
đó kêu là Sát-Lỵ mà sau đổi ra là Thích -Ca (Sakya).
Theo
kinh điển ghi chép thì 10 vị đại đệ-tử của Phật như Ma-Ha Ca-Diếp, Mục Kiền
Liên, Tu-Bồ-Đề v.v… không dùng họ Thích mà khi Phật-Giáo truyền qua Trung Hoa
tới thời nhà Tấn, Ngài Đạo-An xướng xuất việc lấy họ Thích làm họ cho người đi
xuất-gia, rồi từ sự kiện, chính Ngài theo phong tục cổ truyền, trước đó theo học
với Ngài Trúc-Phật Đồ-Trừng ngài Đạo-An lấy luôn tên là Trúc Đạo An và sau vì
lấy cớ những người đi xuất-gia đều lấy đấng Thích-Tôn làm gốc, vì thế Ngài đổi
tên là Thích-Đạo-Ancho đến sau nữa Ngài Thích-Tuệ-Viễn nối
nghiệp thầy mà cũng xưng là Thích-Tuệ-Viễn. Kịp đến thời nhà Đường, Ngài
Tuệ-Năng khi dâng sớ lên Vua Đường Cao -Tôn để xin cáo từ việc cớ già yếu hay
bệnh cũng xưng là Thích-Ca Tuệ-Năng.
Như
thế, họ Thích là sự thay đổi của giòng họ Sát-đế-Lỵ, một giòng họ quý phái thuộc
Ấn-Độ, cho đến khi Phật-Giáo truyền qua Trung-Hoa và thịnh hành từ sau sự khởi
xướng của Ngài Đạo-An thời Đông-Tấn.
Riêng
tại Việt-Nam có lẽ cũng chỉ quan niệm một vị xuất gia theo Phật là thuộc giòng
Thích-tử, còn trong sử sách, danh hiệu các vị Thuyền-sư không mấy khi có thêm
chữ Thích, ví dụ như Ngài Cảm-Thành, Ngài Khuông-Việt, Ngài Viên Chiếu v.v… Cho
mãi đến thời gần đây mới có Điều-Ngự-Tử Thích-Mật-Thể, một
vị khởi xướng dùng chữ họ Thích để ký tên trong văn liệu là cuốn Việt-Nam Phật
Giáo Sử Lược ấn hành vào năm 1943 và có thể là một khởi đoan
phong trào lấy họ Thích đối với Tăng chúng Việt-Nam.
Tóm
lại, chữ Thích là danh xưng của một giòng họ y theo giòng họ của đấng Bổn-Sư
Thích-Ca Mâu-Ni Phật, có nghĩa theo chữ Phạn Sakya tức là bậc Năng-nhân tức là
một bậc có năng lực phát hiện tấm lòng nhân từ vô lượng.
Ngoài
ra, theo chân nghĩa thế gian thì chữ Thích cũng có nghĩa khiến lòng mình tiêu
tan hết mọi phiền não, một hạnh quý giá của người tu hành những pháp môn quý
giá. Do đó, chỉ những vị nào đã thụ đại-giới tức là một vị chính thức gia-nhập
Thích-Môn mới được coi là hàng Thích-Tử.
Cũng
vì thế, những người tại gia cho đến hàng Sa-Di mà lấy họ Thích là
một sự kiện tiếm xưng, và cũng nhân y theo chân nghĩa luận
giải, những vị nào dù có hình tướng xuất-gia mà
không giữ theo giới hạnh của bậc xuất-gia mà dùng chữ Thích cũng
là tiếm xưng họ Phật, bởi những người tu hành mà không giữ
giới thì không còn Tăng cách và không xứng đáng là người Thích-Tử nữa vậy.
Họ
Thích rất cao đẹp, nhưng phải được nêu lên đối với những bậc tu hành chân
chính, đầy đủ đức hạnh đáng cho tín đồ củng phục thì không cần phải xưng họ
Thích mà thiên hạ đều tôn là bậc xứng đáng trong giòng họ Thích-Ca vậy.
Trích:
Giải Luận Giáo Lý của tác giả Giác Không do Nha Tuyên Úy Phật Giáo Quân Lực Việt
Nam Cọng Hòa xuất bản năm 1969 tại Sài Gòn.
Theo
thuvienhoasen.org



20:28
oneillhekhih6165
0 nhận xét:
Đăng nhận xét